Mẹ Đấng Cứu Chuộc và Mẹ của nhân loại được cứu chuộc

Mãe do redentor e da humanidade redimida

Mẹ Đấng Cứu Chuộc: Đức Maria như cửa ngõ của nhân loại được cứu chuộc

Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu Chuộc và vì thế là mẹ của nhân loại được cứu chuộc. Hiểu Đức Maria như Mẹ Đấng Cứu Chuộc đòi hỏi phải đặt Mẹ vào trung tâm của kế hoạch cứu độ: chính từ Mẹ mà Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc, nhận lấy nhân tính mà Người sẽ cứu chuộc.

Theo lời thánh Phêrô nói, “mỗi người làm nô lệ cho chính điều đã thắng mình” (2 Pr 2,19), con người, bị ma quỷ đánh bại, thì về mặt pháp lý phải lệ thuộc nó, và ma quỷ đã thủ đắc quyền sở hữu trên con người. Đàng khác, Thiên Chúa, Đấng mà đối với Người công lý là vinh quang, đã không muốn vi phạm quyền lợi của bất cứ ai, ngay cả quyền lợi của ma quỷ. Vì thế, dù có lòng khao khát sâu xa và quyền năng không thể cưỡng lại vốn là của riêng Người, Thiên Chúa không áp đặt mình trên ma quỷ, để không cho kẻ tố cáo có cớ kết án Người là bất công. Bởi vì cuộc chiến đã không diễn ra giữa ma quỷ và Thiên Chúa, nhưng giữa ma quỷ và con người, nên thật là công bằng khi chính con người bị đánh bại lại là kẻ giành được chiến thắng. Nhưng làm sao con người, đã trở thành nô lệ, lại có thể đánh bại kẻ mà, sau cuộc sa ngã, đang thống trị toàn thế giới qua sự chết?

Chiến thắng ấy chỉ có thể là công trình của Thiên Chúa. “Vì thế, cần phải có sự can thiệp phối hợp của Thiên Chúa và của con người, và sự kết hợp hai bản tính trong một ngôi vị duy nhất, để bản tính này có thể chiến đấu và bản tính kia có thể chiến thắng. Và đó chính là điều đã xảy ra: Thiên Chúa đảm nhận chính nghĩa của con người, vì Người là con người. Và con người, không hề có tội, chiến thắng tội lỗi, vì Người là Thiên Chúa.”

Một mình con người không thể thắng được ma quỷ, và ngay cả một mình Thiên Chúa cũng không thể làm điều đó. Vì vậy, chính “Ngôi Lời đã thành xác phàm” mới có cơ hội chiến đấu và có khả năng chiến thắng. Như thế, chúng ta có thể hiểu vì sao, như đã nói, xác thịt, nghĩa là bản tính nhân loại của Chúa Kitô, đã trở thành sức mạnh và quyền năng, trở thành “áo giáp” của Thiên Chúa chống lại ma quỷ. Thật vậy, nếu Thiên Chúa đã không nhận lấy xác thịt của con người, làm sao Người có thể chết và tiêu diệt “sự chết bằng sự chết”? Nếu Người đã không có máu, làm sao Người có thể “thanh tẩy tội lỗi của thế gian”? Nếu Người đã không thể chịu đau khổ, làm sao Người có thể chữa lành các vết thương và phục hồi sự toàn vẹn của bản tính nhân loại?

Tuy nhiên, đàng khác, nếu một con người đã không tự nguyện dâng hiến xác thịt ấy, thì làm sao Thiên Chúa có thể nhận được nó, Đấng tôn trọng cả đến sự tự do của các quyền lực sự dữ? Thật vậy, suốt cả thời Cựu Ước, Thiên Chúa xin và chờ đợi một sự cộng tác mang tính quyết định từ phía con người. Nhưng không một ngôn sứ nào và không một vị thánh nào đã có thể dâng hiến sự cộng tác ấy trước Đức Thánh Trinh Nữ.

Lần đầu tiên, Mẹ đã giúp Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ thế giới. Mẹ đã chuẩn bị cách xứng đáng và có ý thức, khi cung cấp xác thịt nhờ đó Người, Đấng Toàn Năng duy nhất, đã chiến thắng sự chết và các quyền lực tối tăm. Như thế, nhờ xác thịt của Chúa Kitô, bản tính nhân loại đã được giải thoát khỏi sự dữ và khỏi ách nô lệ của sự chết. Từ giây phút ấy, mọi con người thông phần vào bản tính nhân loại đã được Chúa Kitô thần hóa đều tham dự vào sự sống và sự phục sinh của Người. Và nếu điều đó có giá trị cho mọi con người, thì chắc chắn cũng có giá trị cho Đức Maria, Mẹ của Chúa Kitô.

Thật vậy, có một sự hiệp thông nhiệm mầu giữa xác thịt của Đức Maria và xác thịt của Con Mẹ. Xác thịt của Chúa Kitô thực sự là xác thịt của mẹ Người. Xác thịt của Đức Maria, một cách nào đó, là xác thịt đã được thần hóa của Con Mẹ. Đức Maria là con người đầu tiên được kết hợp cách hết sức thân mật và thực sự với Chúa Kitô. Mẹ thực sự được Kitô hóa, và vì thế thân xác Mẹ đã không ở lại trong sự hư nát của cái chết, nhưng đã được nâng lên trời nhờ Chúa Kitô, như hoa quả đầu mùa của việc thân xác mọi vị thánh được đưa lên trời.

Tuy nhiên, mầu nhiệm Đức Maria, biểu lộ cao nhất về sự cao cả của con người, lại gắn bó mật thiết với mầu nhiệm Hội Thánh. Ai cũng biết rằng Hội Thánh, cũng như Chúa Kitô, là sự kết hợp hôn phối thần bí giữa Thiên Chúa và công trình tạo dựng của Người, là sự kết hợp thân mật nhất và không lẫn lộn giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Một mình Thiên Chúa, không có sự cộng tác của con người, đã không thể thực hiện sự kết hợp ấy. Qua bao thế kỷ, suốt cả thời Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn và chuẩn bị nhân loại, khuyên bảo và nâng đỡ các ngôn sứ và các thánh, nhưng Người luôn hành động từ bên ngoài, không phải cách bản vị, mà qua những con người, trong mức độ họ trở nên sẵn sàng đối với Người. Chỉ trong lòng dạ diễm phúc của Đức Thánh Trinh Nữ mà một trong các Ngôi của Ba Ngôi Chí Thánh đã đến, cư ngụ và do đó đã hành động cách bản vị trong lịch sử.

Trước hết, khi hai bản tính còn tách biệt, con người sống trong sự chết và trong ách nô lệ, còn Thiên Chúa thì, đối với công trình tạo dựng, như một kẻ “không nhà” (àoikos). Với mầu nhiệm Nhập Thể, hai bản tính đã kết hợp với nhau. Con người được thần hóa và Thiên Chúa đã cư ngụ trong lịch sử nơi xác thịt của con người. Trong việc thiết lập Hội Thánh, vốn là sự kết hợp hôn phối thần bí của hai bản tính, Đức Maria đã giữ vai trò trung tâm là chuẩn bị tân nương cho hôn lễ. Nơi bản thân mình, Mẹ đã chuẩn bị, thanh tẩy và trang điểm bản tính nhân loại như cần phải có, và đã dâng bản tính ấy cách xứng hợp cho tân lang trên trời. Và Người đã yêu thương bản tính ấy và kết hợp bản tính ấy với chính mình đến độ cả hai trở nên “một xương một thịt” (Ep 5,31).

Vì thế, nếu Ngôi Lời đã có thể nhận lấy bản tính nhân loại, thì đó là vì Đức Maria đã dâng bản tính ấy cho Người như phải lẽ. Đó là điều các Giáo phụ muốn nói khi viết rằng Đức Maria đã chuẩn bị cho Thiên Chúa một “ngôi nhà”, một “nơi cư ngụ” nhân loại. Trước Đức Maria, Thiên Chúa, đối với công trình tạo dựng, là “một vị vua không có thành”, như Cabasilas viết. Nhưng làm sao một vị vua có thể hiện hữu mà không có thành? Và đàng khác, làm sao một thành có thể hiện hữu mà không có vua? Như thế, Đức Maria đã trở thành vị đại sứ của thành đô con người trước vị vua trên trời. Và không chỉ là vị đại sứ, mà còn là con đường. Nhờ Mẹ và qua Mẹ, Thiên Chúa đã đến và chiếm hữu công trình tạo dựng cách chính đáng và tự do, không bạo lực, và như thế vương quốc của Hội Thánh đã bừng sáng.

Điều đó giải thích vai trò trung tâm của Đức Trinh Nữ Maria trong việc hoàn tất kế hoạch của Thiên Chúa cho ơn cứu độ thế giới và trong việc thiết lập Hội Thánh. Và cũng hiểu được vai trò trung tâm của con người trong việc triển khai mầu nhiệm cứu độ của chính mình. Rõ ràng là, bởi vì con người đã phải cộng tác cách tự do và mạnh mẽ vào việc thực hiện ơn cứu độ, nên Kitô hữu cũng phải cộng tác cách tự do và mạnh mẽ để làm cho ơn cứu độ đã được thực hiện một lần thay cho tất cả trong Chúa Kitô trở nên hữu hiệu cho chính mình.

Jean-Paul Sartre nói về một ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người như một của bố thí. Theo đường hướng của các nhà nhân bản vô thần, ông từ chối đón nhận ơn ấy, bởi vì, ông nói, một ơn cứu độ như thế không xứng với con người, đó là sự tha hóa. Nhưng những gì chúng ta đã nói cho thấy rằng không có gì xa lạ với giáo lý Kitô giáo đích thực cho bằng quan niệm ấy về ơn cứu độ. Nếu đúng là, theo tư tưởng của các Giáo phụ, ơn cứu độ thực sự là một hồng ân của Thiên Chúa, thì cũng đúng là, xét từ phía con người, ơn cứu độ là điều phải chinh phục.

Thiên Chúa ban tất cả, nhưng để lại cho con người khả năng — thật ra còn hơn thế nữa, Người thúc giục con người — làm tất cả. Thiên Chúa không phải là ông chủ, nhưng là bạn hữu của con người (philanthropos): “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, anh em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,15). Sự tôn trọng sâu xa ấy của Thiên Chúa đối với con người, vốn làm nên sự cao cả đích thực của con người và, như mọi sự thuộc về Thiên Chúa, không hề biết đến giới hạn, sẽ còn được làm nổi bật hơn nữa trong suốt hành trình của chúng ta.

Chúng ta hãy xét đến tín điều Thánh Mẫu học chính yếu, tín điều của Công đồng Êphêsô, tuyên bố Đức Maria là “Đấng đã sinh ra Thiên Chúa” (Theotókos, tiếng Latinh là Deipara). Ai cũng biết rằng những người lạc giáo, khởi đầu là Nestôriô, lập luận rằng Đức Trinh Nữ là “Đấng đã sinh ra Chúa Kitô” (Christotókos), hay là đấng đã sinh ra con người (anthropotókos), được thụ thai nơi Đức Maria và sau đó Ngôi Lời mới kết hợp với con người ấy. Thế nhưng, những người chính thống đã kiên quyết giữ vững hạn từ “Đấng đã sinh ra Thiên Chúa” (Theotókos), bởi vì chỉ nhờ hạn từ táo bạo này mới có được cách diễn tả thích đáng sự kiện là nơi Chúa Kitô hai bản tính trọn vẹn và hoàn hảo, bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, được kết hợp mật thiết và không thể tách rời, đồng thời không lẫn lộn.

Nếu Đức Trinh Nữ đã không thực sự sinh ra Thiên Chúa, nếu Thiên Chúa chỉ “cư ngụ” nơi Mẹ, nếu Người chỉ đơn thuần “sử dụng” Mẹ, thì Ngôi Lời đã không thực sự nhận lấy con người trong toàn thể tính của nó, không còn là một “con người hoàn hảo” nữa và do đó không thể cứu độ con người. Thật vậy, Theotókos, xét theo quan điểm tín lý, đã trở thành chiếc neo của ơn cứu độ chúng ta, bảo chứng và bảo đảm cho mối tương quan đích thực của chúng ta với Chúa Kitô, bảo đảm cho nhân tính thật và hoàn hảo của Ngôi Lời nhập thể.

Nhưng hạn từ này có ý nghĩa gì đối với nhân học, vốn là nền tảng cho cả Kitô học lẫn Thánh Mẫu học?

Cách vắn gọn, chúng tôi chỉ đưa ra một đường hướng giải thích duy nhất, nhưng có tính quyết định. Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới để kết hợp thế giới với Người, nghĩa là để làm nên Hội Thánh, thân thể của Con hằng hữu của Người. Nói cách khác, thế giới đã được tạo dựng hướng về Chúa Kitô. “Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình; muôn vật đều do Người và vì Người mà được tạo thành” (Cl 1,16). Maximô Tuyên Tín, Grêgôriô Palamas, Nicôđêmô Hagiorita và một hàng dài đáng kính các Giáo phụ nói về mầu nhiệm Chúa Kitô như cùng đích tối hậu của công trình tạo dựng và nhìn thấy nơi Chúa Giêsu Kitô nguyên lý và sự hoàn tất, alpha và ômêga của mọi sự.

Con người, được tạo dựng vào ngày thứ sáu như triều thiên và ý thức của công trình tạo dựng, quy tụ nơi bản thân mình toàn thể thế giới. Theo Maximô, con người là một “tiểu vũ trụ”, hay theo Grêgôriô Nazianzô, là “một thế giới nhỏ chứa đựng thế giới lớn”. Hơn nữa, con người đã được tạo dựng tự do và, như một giáo thuyết nhân học nền tảng, được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa”. Điều đó có nghĩa là, bởi vì, theo Phaolô, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình là Logos (Cl 1,15), nên con người được tạo dựng “theo hình ảnh” thì được dựng nên để vươn tới hình ảnh ấy, ngõ hầu kết hợp ngôi hiệp với Logos và cũng trở nên, nhờ ân sủng, hình ảnh của Thiên Chúa trong hình ảnh tự nhiên của Chúa Cha. Nói cách khác, cùng đích của con người là trở nên một hữu thể thần-nhân, Thiên Chúa-con người. Quả thật, Basiliô nói rằng con người là một hữu thể “đã nhận lệnh phải trở thành Thiên Chúa”.

Nhưng làm thế nào điều đó có thể được thực hiện?

Về điều này, Nicola Cabasilas viết rằng Thiên Chúa đã tạo dựng bản tính nhân loại với mục đích tìm được nơi bản tính ấy một người mẹ vào lúc Người quyết định nhập thể.

Và làm sao con người có thể vượt qua khoảng cách hữu thể vô tận giữa mình và Thiên Chúa để kết hợp với Thiên Chúa, nếu chính Thiên Chúa đã không nhận lấy con người?

Và làm sao Thiên Chúa có thể nhận lấy con người cách hữu hiệu mà không có một mối dây thân mật, “xác thịt”, với con người?

Ở đây chúng ta chạm đến cách sâu xa tín điều được linh hứng, và do đó thực sự khôn cạn, về Theotókos. Chúng ta đã thấy rằng Đức Thánh Trinh Nữ không phải là một trường hợp tách biệt và ngẫu nhiên đối với dân được tuyển chọn là Israel. Từ quan điểm mà chúng ta đang xem xét ở đây, cũng vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, một cách nào đó, Mẹ thậm chí cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ trong nhân loại nói chung. Việc Mẹ thụ thai đồng trinh, ngoại thường và phi thường, tuy vậy lại là sự hoàn tất thuần túy và đơn giản mục đích mà vì đó bản tính nhân loại đã được tạo dựng “từ nguyên thủy”. Vì thế, nơi con người của Đức Maria, Đấng thực sự và đích thực là “Deipara”, chính bản tính nhân loại tỏ lộ mình là “Deipara”, Theotókos!

Trong cuộc đối thoại giữa các Kitô hữu và những người không phải Kitô hữu, những hệ quả của sự kiện này có thể tỏ ra hữu ích cách bất ngờ. Qua bao thế kỷ, nhiều người ngoài Kitô giáo đã khẳng định rằng con người có thể trở thành Thiên Chúa. Thế nhưng, không một ai trong họ dám nói rằng con người có thể sinh ra Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, như các Giáo phụ đã dám nói!

Không một sai lầm nào táo bạo hơn chân lý. Và không một lời lên án nào đối với chủ nghĩa nhân bản vô thần lại triệt để hơn giáo thuyết chính thống nền tảng này, vốn nhìn thấy nơi bản tính nhân loại một “Deipara” thật sự và đích thực.

Giáo thuyết này có thể mang lại ánh sáng mới và dẫn tới một sự hiểu biết rộng rãi hơn về tước hiệu “Con Người”, mà Chúa Kitô đã nhiều lần gán cho chính mình. Nó cũng có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo thuyết của Phaolô về “con người mới”. Theo Phaolô, mỗi con người phải “chết đi” và “tái sinh”. Nhưng việc sinh ra mới diễn ra “trong Chúa Kitô”, nghĩa là con người mới là một con người “được Kitô hóa”, một hữu thể thần-nhân, Thiên Chúa-con người…

Kết luận

Phân tích mà chúng ta đã thực hiện cho thấy vì sao Đức Thánh Trinh Nữ Maria lại có một vai trò trung tâm đến thế trong tín điều, phụng vụ và lòng sùng kính của Hội Thánh. Đức Maria đã giữ một vai trò trung tâm trong nhiệm cục thần linh. Mẹ đã sửa lại Eva: Mẹ đã có thể cho thấy con người như đã được tạo dựng, trong tất cả vẻ đẹp và sự huy hoàng nguyên thủy của mình. Một con người đơn sơ và trong sạch, chìm trong hoàn cảnh phát sinh do tội nguyên tổ, nhưng có khả năng chu toàn mục đích mà vì đó con người đã được tạo dựng “từ nguyên thủy”, nghĩa là trở thành con đường nhờ đó Thiên Chúa, Ngôi Lời, bước vào chính thế giới của Người như Thiên Chúa-con người trong lịch sử loài người và, bằng cách đó, cứu độ, nghĩa là thần hóa, con người.
Cũng chính phân tích ấy cho thấy hai lời phản bác lớn của những người ngoài Kitô giáo chống lại Kitô giáo không có cơ sở và cũng không đứng vững. Đối với các Kitô hữu, Thiên Chúa hoàn toàn không phải là một “người cha tàn nhẫn”. Người hoàn toàn không phải là một “sự tha hóa của con người”. Trái lại, Thiên Chúa, Đấng ẩn giấu trong mọi sự và trong mọi biến cố lịch sử, cần đến con người, kẻ duy nhất có thể mặc khải Người. Đây là lạc giáo của chủ nghĩa nhân bản lấy con người làm trung tâm.

Tuy nhiên, trong mọi lạc giáo, luôn có một yếu tố chân lý nào đó mà nền thần học chính thống phải phân định và đón nhận. Điều chân thật, dù bị bóp méo, chính là sự tôn trọng sâu xa của Thiên Chúa đối với con người. Thiên Chúa tôn trọng con người đến mức cứ ở yên không hành động, đối với con người và đối với công trình tạo dựng vốn tùy thuộc vào con người, để không xâm phạm tự do của con người.

Thật ra, Thiên Chúa vẫn ẩn mình cho tới lúc một con người, là Đức Thánh Trinh Nữ, đã có thể và đã ưng thuận trao cho Người xác thịt của mình, như một tấm áo làm cho Người thực sự hữu hình và gần gũi với loài người. “Thời gian viên mãn”, nghĩa là giây phút mà Thiên Chúa chờ đợi và chuẩn bị từ “nguyên thủy” để tỏ mình ra cách trọn vẹn cho loài người, cho các thiên thần và cho toàn thể công trình tạo dựng, và để nhận lấy trong ngôi vị của Người bản tính nhân loại, ngõ hầu ban cho loài người khả năng trở nên những hữu thể thần-nhân, những con người “thật” và “hoàn hảo” (Cl 1,28), giây phút trung tâm ấy của lịch sử đã đến với Đức Thánh Trinh Nữ. Hướng trọn cả con người mình về Thiên Chúa, người con gái khiêm hạ của Nadarét, được nuôi dưỡng bằng sự sống thần linh, đã tỏ lộ nơi việc thụ thai của mình cả Thiên Chúa lẫn con người, và như thế đã trở thành nền tảng vững chắc cho một chủ nghĩa nhân bản chân thật và lành mạnh, một chủ nghĩa nhân bản lấy Thiên Chúa làm trung tâm.

Hãy đào sâu việc học của bạn: khám phá Thánh Mẫu học, thần học Thánh Mẫu, các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học.

Để đào sâu suy tư về Đức Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc và Mẹ của nhân loại được cứu chuộc, bạn hãy tham khảo Thông điệp Redemptoris Mater của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Tóm lại, Mẹ Đấng Cứu Chuộc là tước hiệu nói lên Đức Maria là ai và Mẹ làm gì cho nhân loại được cứu chuộc. Đào sâu về Đức Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc, là mở lòng ra cho sự trung gian từ mẫu trong trật tự ân sủng. Đọc thêm trong Redemptoris Mater.

Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học

Bạn có muốn đào sâu việc đào tạo của mình về Thánh Mẫu học không? Hãy tìm hiểu Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học của Locus Mariologicus – một chương trình đào tạo hàn lâm kết hợp sự chặt chẽ thần học, đời sống thiêng liêng và truyền thống sống động của Hội Thánh.

Đăng ký danh sách chờ →

Hãy đào sâu về Sự Đồng Trinh Trọn Đời của Đức Maria.

Related Articles

Responses