Đức Maria phục vụ những người đã chịu phép rửa và phục vụ sự sống

Dẫn nhập
Một trong những mối bận tâm lớn nhất của thời đại chúng ta là nhận ra sự cân bằng của các yếu tố, vốn trong sự phụ thuộc lẫn nhau bảo đảm cho thế giới được tồn tại, đang bị tổn hại nghiêm trọng đến mức nào. Các nguyên nhân gây tan rã thì nhiều, và con người không hoàn toàn xa lạ với chúng. Tuy nhiên, tất cả những yếu tố ấy đều nằm trong một khung cảnh rộng lớn hơn, được biểu thị bởi giá trị của sự sống, hồng ân quý giá Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta và được thực hiện trong toàn bộ giá trị vũ trụ và thời gian của nó nhờ hoạt động cứu độ do Đức Kitô thực hiện. Chính Người đã trả lại cho con người phẩm giá đã bị đánh mất vì tội lỗi. Vậy, yếu tố gây tan rã là tội lỗi ấy được lưu tâm đến trong lời cầu nguyện của Hội Thánh khi cử hành Thánh Thể, nghĩa là khi mỗi ngày Hội Thánh đắm mình trong một thời gian thuận tiện để lớn lên và trưởng thành trong đức tin, để mang sứ điệp sự sống đến những người ở xa và, trước hết, để thực thi sứ điệp ấy. Qua Thánh Thể, ý nghĩa của sự sống được tái khẳng định mạnh mẽ trong chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi và sự chết. Việc Người vẫn là một “hôm qua, hôm nay và mãi mãi” (Dt 13,8) được tuyên xưng trong lời tung hô sau trình thuật lập Thánh Thể: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, chúng con tuyên xưng việc Chúa sống lại, trong khi chờ đợi Chúa đến”. Vậy thì: cộng đoàn tín hữu (và là cộng đoàn tuyên xưng đức tin của mình) chiêm ngắm các mầu nhiệm cứu độ, những mirabilia Dei, những biến cố và những con người, trong đó Đức Maria có một vị trí hoàn toàn đặc biệt. Cần lưu ý rằng mối tương quan giữa Đức Maria và công trình tạo dựng, cũng như sự phục vụ mà Mẹ Thiên Chúa thực hiện cho sự sống và cho vũ trụ, rất đa diện, đến mức phải xét đến nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng các khía cạnh ấy có thể được nhận diện qua việc suy tư về bản văn Lời nguyện Nhập lễ của Thánh lễ “Đức Trinh Nữ Maria, Tòa Đấng Khôn Ngoan”. Chúng tôi xin trích lại bản văn:

Lạy Cha của ánh sáng, để nâng dậy nhân loại sa ngã trong Đức Kitô, Cha đã chọn Đức Trinh Nữ Maria làm tòa của Đấng Khôn Ngoan; nhờ sự trợ giúp từ mẫu của Mẹ, xin ban cho chúng con ý thức sâu xa về những giới hạn của mình, để chúng con không để mình bị kiêu ngạo lôi cuốn, và biết phụng sự Cha với lòng khiêm nhường đẹp lòng Cha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con…
Trong bản văn kinh nguyện phụng vụ này, chúng ta tìm thấy ít nhất bốn hướng nhận xét, mà khi gộp lại, cho chúng ta thấy tầm vóc thực sự của vai trò Đức Maria đảm nhận đối với sự sống và vũ trụ. Vì thế, chúng tôi sẽ chia bài đóng góp này thành năm phần, trong đó bốn phần đầu sẽ lấy làm tiêu đề bốn khía cạnh tương ứng mà chúng ta gặp thấy trong lời nguyện này. Trong phần kết luận, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một đánh giá tổng quát về tầm quan trọng mà Đức Trinh Nữ Rất Thánh giữ được trong chính hữu thể của Mẹ, là người đầu tiên và lớn nhất cổ võ sự sống.
Nhân loại sa ngã
Chúng ta có thể khởi đi từ một dữ kiện rất thực tế: trong thế giới của chúng ta, sự sống đang bị đe dọa. Các biểu hiện thì nhiều, nhưng nguyên nhân chỉ có một. Những biểu hiện như bạo lực, nạn đói, cảnh khốn cùng, sự sợ hãi đã tước khỏi nhân loại đặc tính nền tảng của mình: phẩm giá. Nguyên nhân duy nhất tác động một cách xuyên suốt, qua nhiều nơi chốn và thời đại khác nhau, chính là tội lỗi. Không cần phải mở sách thần học hay xã hội học để hiểu tội lỗi tác động như thế nào và mạnh mẽ đến đâu theo hướng phá hủy: chúng ta nhận thấy điều đó vì chúng ta sống tiếp xúc với nó.
Nguồn gốc và sự sa ngã
Vậy, yếu tố đầu tiên cần xem xét là nhân loại sa ngã, nhưng tại sao? Những trang đầu tiên của sách Sáng Thế cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đang hành động, một Thiên Chúa đặt trật tự vào hỗn mang. Từ Người xuất hiện một điều mới mẻ: vũ trụ với một đặc tính nền tảng là sự tốt lành (St 1,25). Sự tốt lành ấy là hồng ân Người ban tặng: chính môi trường, đầy đủ mọi loài sinh vật, được điều hòa bởi các chu kỳ vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên, đã sẵn sàng đón tiếp con người, thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh và giống Người (St 1,26). Ở đây sự tốt lành gia tăng cường độ (St 1,31): khi vui mừng chiêm ngắm thụ tạo mà Người đã làm ra, Thiên Chúa hài lòng về con người, yêu thương con người. Trong trái tim Người, Người đã định cho con người một vinh quang lớn lao, vì ngay từ bây giờ Người đã chọn con người làm cộng sự của mình. Giờ đây con người được tuyên bố là “chủ” của thế giới thụ tạo, được mời gọi sống trong một sự hòa hợp kép: với Thiên Chúa và với vũ trụ. Ngay trong trình thuật tạo dựng thứ nhất ở St 1, người ta đã nhận ra sự hòa hợp ấy, và nó được biểu lộ cách minh nhiên ở câu 28 (“Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất”) trong hai thời điểm: sự sinh sản, nghĩa là việc duy trì sự sống, qua đó Thiên Chúa muốn trao ban một tương lai. Thứ đến, việc thống trị mặt đất không chỉ là sử dụng nó cho các nhu cầu thiết yếu, tránh xa mọi mục đích hay ý đồ hủy diệt, mà còn “ở chỗ con người, và qua con người là toàn thể công trình tạo dựng, dâng lên Thiên Chúa một bài ca chúc tụng, vì tình yêu và lòng thương xót của Người thật bao la”. Tất cả thật sự là một thiên đường, thiên đường trần thế: khu vườn, nơi hoan lạc mà đỉnh cao chính là sự hòa hợp, tình yêu tinh tuyền không chút bóng mờ giữa Thiên Chúa và con người (x. St 2,28). Con người trần truồng mà không xấu hổ (St 2,25): không phải che giấu điều gì, dù là những phần bên ngoài, hay trái tim và tâm trí. Nhưng có một điều gì đó ở chân trời đe dọa và làm hư hỏng: “khi biết điều thiện và điều ác, các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa” (x. St 3,5). Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm biến dạng các mối tương quan: không còn hòa hợp nữa, mà là sự lộng quyền. Không còn trong sáng nữa, mà là sợ hãi và gian dối. Chính hình ảnh về Thiên Chúa do con rắn đưa ra cũng không phải là hình ảnh chân thật và đích thực: đó là một Thiên Chúa được vẽ theo kiểu ích kỷ, trong khi thực ra chúng ta biết rằng Người là Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới và con người, Đấng vui mừng khi trao ban chính mình, và cả quyền năng lẫn quyền thống trị của Người cũng đều mang dấu ấn của tình yêu. Nhưng, bị Ác Thần xúi giục, con người đi theo hướng ngược lại, phạm tội, coi đó là cách đúng đắn để đạt tới điều thiện. Đây chính là cốt lõi đề nghị của Ác Thần, một đề nghị gây hậu quả không chỉ trên con người, mà còn trên các mối tương quan của con người với toàn thể vũ trụ.
Những hậu quả của tội lỗi
Tạm gác trang Kinh Thánh để mở trang của thế giới, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, từ nhiều phía, liên quan đến thế giới chúng ta đang sống, những câu như “Mọi sự đều tồi tệ” hay “Đã chạm đáy rồi” không hiếm. Tất cả những điều đó là dấu hiệu của sự bực bội và sự mất thiện cảm đối với một thế giới và một môi trường mà con người, bị suy yếu vì tội lỗi, thứ đã biến con người từ chủ nhân thành bạo chúa, thường đã làm cho trở nên không thể cư ngụ được. Dĩ nhiên, đây không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là cả một loạt những hành vi xâm phạm sự sống con người, coi sự sống ấy không còn là mục tiêu hay cứu cánh cần phục vụ hoặc theo đuổi bằng những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhưng đúng hơn là một mảnh đất thử nghiệm. Tiếp tục huấn quyền mang đậm tính nhân học của mình, Đức Gioan Phaolô II, trong Evangelium Vitæ năm 1995, đã cho thấy cách minh nhiên hơn những gốc rễ của sự sụp đổ luân lý mà nhân loại vừa là nạn nhân vừa là kẻ đồng lõa. Khía cạnh nghiêm trọng nhất là, chẳng hạn, chính trị và y học đã từ bỏ chức năng bảo vệ và che chở sự sống con người, mà đi theo những con đường của sự chết. Một sự xuyên tạc những nghệ thuật cao quý. Đức Gioan Phaolô II viết:
Việc luật pháp của nhiều quốc gia, có lẽ đi xa khỏi chính những nguyên tắc nền tảng trong Hiến pháp của mình, tìm cách chấp nhận không trừng phạt, hoặc thậm chí công nhận tính hợp pháp trọn vẹn của những thực hành chống lại sự sống như thế, vừa là một triệu chứng đáng lo ngại, vừa là một nguyên nhân không nhỏ của một sự sụp đổ luân lý nghiêm trọng: những lựa chọn trước đây được mọi người nhất trí coi là tội ác và bị cảm thức luân lý chung loại bỏ, nay dần dần trở nên đáng được xã hội tôn trọng. Chính y học, vốn tự ơn gọi của mình được định hướng để bảo vệ và chăm sóc sự sống con người, trong một số lĩnh vực của mình, ngày càng sẵn sàng thực hiện rộng rãi những hành vi chống lại con người ấy, và như thế làm biến dạng dung mạo của mình, tự mâu thuẫn với chính mình và hạ thấp phẩm giá của những người hành nghề y.
Rất gần với chúng ta là văn kiện gần đây của Học viện Giáo hoàng Quốc tế về Đức Maria (PAMI), mang tựa đề Mẹ của Chúa. Ký ức, hiện diện, hy vọng, đã nhận diện cách hữu hiệu hai lĩnh vực mà tình trạng đáng lo ngại ấy của thế giới hiện rõ nhất. Lĩnh vực thứ nhất là sinh thái, trong đó, giữa những hậu quả khác, người ta ghi nhận sự sa mạc hóa, các vụ hỏa hoạn và ô nhiễm; còn lĩnh vực thứ hai, xã hội và đạo đức, thì ngược lại, chạm đến thực tại cụ thể cách trực tiếp hơn, như việc bị khuất phục dưới bạo lực, bị bóc lột, bị công cụ hóa cho những mục đích phản nhân bản. Rõ ràng ẩn bên dưới là một ý niệm sai lầm về tự do, bị tước bỏ và tách rời khỏi mọi chiều kích siêu hình và siêu việt mà thực tại tự bản chất được định hướng tới.
Trước văn kiện ấy, vào lúc kết thúc Tổng Tu Nghị lần thứ 210 được tổ chức năm 1995 tại Thành phố Mexico, Dòng Tôi Tớ Đức Maria đã soạn thảo phần đóng góp của mình cho Hội Thánh hoàn vũ, với tựa đề đầy ý nghĩa Tôi tớ của Magnificat. Trong đó, một phần đáng kể được dành cho chủ đề sự sống, nhưng cũng cho những khía cạnh đa dạng và đáng lo ngại, không may, đang tiếp tay cho sự tan rã của sự sống. Tất cả những điều ấy được triển khai rõ ràng dưới nhãn quan Thánh Mẫu. Sự mô tả mà SdM trình bày rất hấp dẫn, cả về văn phong, phong phú những hình ảnh Kinh Thánh, cũng như những yếu tố mà truyền thống trung tín, cầu nguyện và sống động của Hội Thánh không ngừng trở lại suy tư. Chẳng hạn, khởi đi từ (Kh 6), cuộc chiến giữa con ngựa trắng và ba con ngựa khác (đỏ, đen và xanh nhợt) được mô tả, gắn liền với bốn loại tai ương đang giày vò nhân loại: nạn đói, chiến tranh, sự bất công tội ác và sự tàn phá sinh thái. Mỗi biểu hiện ấy đều gây ra một vết rách: nạn đói gây ra những thiệt hại lớn nhất, kế đến là sự tàn phá sinh thái, được định nghĩa cách rất xác đáng là “kết quả của một chủ nghĩa nhân loại trung tâm tuyệt đối”, điều đã đặt vấn đề sinh thái lên hàng cấp bách tột độ, cho phép xem xét cách chăm chú sự tốt lành của thế giới thụ tạo. Nét chung của cả hai văn kiện là ghi nhận rằng sự suy thoái của vũ trụ và sự suy thoái của nhân loại là những yếu tố gợi lên nhau và có thể được giải quyết nhờ việc xác định rõ những giới hạn mà trong đó con người phải thực thi quyền thống trị của mình trên trái đất. Và chính vấn đề sinh thái đang được một số trào lưu và đại diện của thần học đương đại thảo luận sôi nổi. Trong tổng thể các lập trường của họ, người ta thấy có sự nhất trí trong việc giảm bớt và điều chỉnh lại những tham vọng thống trị của con người trên vũ trụ, bằng cách cho thấy rằng sự sống hiện diện trong vũ trụ, chứ không chỉ nơi con người.
Ý thức sâu xa về những giới hạn của chúng ta
Dựa trên những gì đã nói, tội lỗi, dù là tội nào đi nữa, luôn xuất hiện như một thực tại tăm tối xúc phạm trước hết đến chính người gây ra nó. Nhưng ý thức về tội và về sự giới hạn phát sinh từ tội đã là bước đầu tiên hướng tới sự thay đổi (x. 1 Ga 1,8-9). Đó là điều được gọi là “sự sám hối nội tâm” mà Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nói đến và là hoa trái của một truyền thống thần học và thiêng liêng lâu đời. Ở đây con người được trợ giúp theo hai hướng: bởi những hậu quả mà tội lỗi mang theo trong lãnh vực các mối tương quan liên vị, và bởi hướng thứ hai, được thể hiện qua hành trình độc đáo của Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh, Đấng là thành phần trọn vẹn của nhân loại đang ý thức về hoàn cảnh của chính mình. Chúng ta hãy xem xét kỹ những yếu tố này.
Sự phục hồi những yếu tố bị đe dọa
Về điểm thứ nhất, trong lãnh vực thần học, người ta đã biết đến sự phân biệt giữa hai khái niệm tội nguyên tổ khởi nguồn và tội nguyên tổ được truyền lại, được áp dụng cho sự bất tuân của nguyên tổ chúng ta. Người ta đã viết rất nhiều về khía cạnh này trong các giáo trình và chuyên khảo. Sự thật là, từ sự bất tuân ban đầu và qua sự bất tuân ấy, sự chia cắt bên trong chính nhân loại, cũng như giữa nhân loại với toàn thể vũ trụ, đã dần lan rộng, theo một cách nói quen thuộc và bình dân, “như vết dầu loang”. Những nỗ lực tự biện minh của nguyên tổ trong St 3,11-13 chẳng ích gì; trái lại, chính chúng cho chúng ta thấy khởi đầu của một lịch sử mà, nếu lúc ban đầu, sau công trình tạo dựng, là êm đềm và hiệp thông trọn vẹn, thì nay, sau khi đã nhượng bộ con rắn và đón nhận đề nghị của nó, lại thấm đẫm tội lỗi và cho thấy những rạn nứt là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân. Những biến cố tiếp theo cho đến tháp Babel xác nhận điều đó. Những cuộc hủy diệt (lụt đại hồng thủy) và những cuộc phân tán (Babel) mà chúng ta gặp thấy trong St 4-11 ngay từ bây giờ đã tỏ ra là những phương thế Thiên Chúa dùng để ngăn chặn con người trong những hành động được khơi nguồn từ việc thờ ngẫu tượng. Lời “các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa” tiếp tục phát huy sức mạnh gây ảo tưởng và làm mù quáng của nó. Không chỉ con người phải ở trung tâm thế giới, nhưng con người có thể ở đó nếu lấy lại ý thức mình là người đại diện của Thiên Chúa, người bảo vệ công trình tạo dựng mà Người đã trao phó cho mình. Khi loại bỏ sự hiệp thông ấy, con người liền để lộ tất cả sự yếu đuối và tất cả sự hữu hạn của mình, vốn được che đậy, hay dẫu sao cũng bị che giấu, bởi một sự phô trương tự do giả tạo mà thực ra là sự nô lệ cho phần tồi tệ nhất của chính mình. Trở lại với lời Kinh Thánh, chỉ có sáng kiến mới của Thiên Chúa khi kêu gọi ông Ápraham mới có thể tạo nên một bước ngoặt và giải thoát, dù chưa trọn vẹn, loài người khỏi sự trì trệ của việc thờ ngẫu tượng. Ông Ápraham được trao phó một sứ mạng hiệp thông: con người già nua phó thác mình cho Thiên Chúa, Đấng viếng thăm ông và hứa ban cho ông một dòng dõi, bất chấp tuổi tác cao niên lẽ ra không cho phép ông sinh con. Người con Isaác, mà truyền thống Kitô giáo về sau coi là hình bóng báo trước Đức Kitô, là một điều mới mẻ không chỉ vì sự ra đời của mình, mà còn vì vai trò tổ phụ của một dân mới. Tại sao lại như thế? Chắc chắn đó là sự báo trước ơn cứu độ mà chúng ta sẽ thấy được thực hiện trong Tân Ước nơi Đức Kitô, nhưng ơn cứu độ ấy không nảy sinh cách tự phát. Sự chuẩn bị trong Cựu Ước phát sinh từ một ý muốn siêu nhiên rõ ràng của Thiên Chúa Tạo Hóa và Cứu Chuộc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng “thế giới chắc chắn mang những dấu vết của tội lỗi, nhưng cũng khắc ghi sâu xa niềm khao khát ơn cứu độ, dấu ấn xuất xưởng đích thực của nó, dấu ấn nguyên thủy của Đấng Tạo Hóa”. Vậy, đó là một Thiên Chúa tạo ra một điều thiện vượt trên tội lỗi, và Thánh Phaolô đã trở nên sứ giả loan báo về Người khi nhấn mạnh rằng “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, thì ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Nhiều thế kỷ sau, Thánh Augustinô sẽ trở lại đề tài này trong De Civitate Dei của ngài, khi nói về một điều thiện nguyên thủy vượt trên sự ác, nhờ đó con người không phải là không thể cầu nguyện rằng “xin tha nợ chúng con”. Điều này làm cho con người ý thức về những giới hạn của mình mà không đẩy họ vào tuyệt vọng, nhưng đúng hơn dẫn họ tới chỗ khám phá mình là thành phần trọn vẹn của một vũ trụ và một sự sống được ghi dấu bởi ân huệ của Thiên Chúa: một vũ trụ từ đó có thể đi lên tới Tác Giả, vì vũ trụ là nơi Thiên Chúa đã để lại dấu ấn của Người. Thuộc về nhân loại này của chúng ta, và hội nhập trọn vẹn vào đó, chính là Đức Maria, Mẹ của Chúa.
Đức Trinh Nữ Maria
Vậy, trước khi bắt đầu một diễn từ tôn giáo mang tính Kitô giáo cách minh nhiên, và khi đọc Tin Mừng đơn thuần như một câu chuyện, chúng ta nhận thấy Đức Maria, chăm chú lắng nghe Lời, không ngừng ý thức về chính mình và về mối tương quan của Mẹ với Thiên Chúa và với sự sống. Và nếu đối với các Kitô hữu, Mẹ là thụ tạo được định cho một sứ mạng đặc biệt, thì đối với những người không có đức tin hoặc những người không lập tức dựa vào một diễn từ đức tin, Đức Maria xuất hiện đơn giản hơn như một con người đang tìm kiếm, đang tự vấn. Mẹ cũng là người lữ hành trong đức tin. Trước mặt Thiên Chúa, Mẹ cũng tự đặt câu hỏi về ý nghĩa của Mặc Khải và của sự sống (x. Lc 1,29). Nếu trong SdM, ở số 63, Đức Maria xuất hiện như “mảnh nhỏ độc đáo, nơi đó, sau Đức Kitô, mọi sự được quy tụ và mọi sự được nói lên”, thì điều đó có giá trị không chỉ trong lãnh vực hữu thể, mà cả trong hành động. Vậy, đó là một sự song song với điều đã xảy ra lúc khởi đầu thế giới. Đó là sự trung gian, xuất phát từ Đức Kitô duy nhất (x. 1 Tm 2,5-6), mở rộng đến mọi người, và cho phép chúng ta đọc thấy nơi Đức Maria nhiệm vụ của chúng ta là những người bảo vệ vũ trụ, những người mang sự mới mẻ của Đức Kitô và sứ điệp cứu chuộc của Người. Theo gương Đức Maria, Đấng cưu mang “Đấng làm mới mọi sự” (x. Kh 21,5) và ý thức về chính mình, chúng ta có thể thực hiện một hành trình suy tư không chỉ về những giới hạn của mình, mà còn về những mầm ánh sáng mà Chúa đã gieo vào nhân tính của chúng ta. Như vậy, một đàng, chúng ta có những hậu quả tai hại của tội lỗi, còn đàng khác, con người, được dựng nên chẳng thua kém thiên thần là mấy, được trang điểm bằng vinh quang và danh dự (x. Tv 8,6), được mời gọi làm chứng cách tích cực và cụ thể cho sự cao cả của Thiên Chúa qua việc sử dụng các tài năng và đặc sủng. Khi ấy, những lời của văn kiện PAMI vang lên thật thích hợp, theo đó “một mô hình mới thay thế cho mô thức cá nhân chủ nghĩa của thời hiện đại, mà các thành tố là tính tương quan và tình liên đới, sự hiệp lực và tính bổ túc cho nhau: những thành tố phản ánh trật tự của tự nhiên và hoàn toàn hòa hợp với giáo huấn Tin Mừng”. Từ nền tảng ấy, ý nghĩa mới của hoạt động con người trong thế giới được thêm sức mạnh, và mọi ngành khoa học, mỗi ngành trong lãnh vực của mình, đều có thể đóng góp sự phục vụ của mình, một sự phục vụ tác động trong vũ trụ và trong lịch sử. Nếu các thành tố mà văn kiện PAMI nêu ra được đem ra thực hành, thì có thể giảm bớt tác động của tội lỗi, khi lưu ý, trong số những điều khác, rằng các thành tố ấy, vì phát xuất từ lòng tốt của Thiên Chúa, củng cố sự hiệp thông của chúng ta với Người và vị thế ưu việt của chúng ta trong thế giới thụ tạo. Điều này có những hệ quả rõ rệt trong diễn từ về Đức Maria ở hai cấp độ: trước hết, trong việc xem Đức Maria như thụ tạo của sự hiệp thông và như người biểu lộ trọn vẹn câu trả lời về ý nghĩa mà Mặc Khải trao cho con người; đồng thời, nhu cầu để Thánh Mẫu học ngày càng mở ra đối thoại với các phân môn khác của thần học. Một sự ưu việt, theo dòng suy tư Thánh Mẫu này, được hiểu như sự phục vụ, gắn bó sâu xa với lời Tin Mừng được diễn tả qua Magnificat, trong đó Đức Maria, sau khi đã đón nhận Lời bằng một hành vi đức tin tự do, mang tính Hội Thánh (một tính Hội Thánh tóm kết và hoàn thiện dữ kiện Cựu Ước), nhưng trên hết được xác định bởi Đối Tượng của nó, đã liên kết và làm nổi bật sự hỗ tương giữa hai chiều kích khiêm hạ và tôn vinh. Khi đọc kỹ (Lc 1,48), người ta dễ dàng nhận ra rằng sự tôn vinh đi qua sự khiêm hạ của người nữ tỳ, và đến lượt mình, sự khiêm hạ ấy nhận được triều thiên của nó nơi sự tôn vinh, là lý do của niềm vui được diễn tả trong các câu trước đó. Tất cả những điều này cho chúng ta thấy rằng, trong Mầu Nhiệm của Thiên Chúa, “sự nhỏ bé và sự bất lực không có nghĩa là không sinh hoa trái hay vô dụng (x. Tv 30,8 [LXX]. St 29,32)”. Đó là những “chìa khóa” mà mầu nhiệm Thiên Chúa trao cho con người để được hiểu và được yêu, bởi vì, qua sự khiêm nhường và khi tự xưng là khiêm nhường (x. Mt 11,29), Đức Giêsu Kitô tỏ mình ra như sự viên mãn của Mặc Khải của Thiên Chúa. Việc thánh hiến – đồng hình đồng dạng của tín hữu với Đức Kitô qua phép Rửa và cuộc sinh ra lần thứ hai của họ không thể tách rời khỏi Đức Trinh Nữ Rất Thánh, như các sách Tin Mừng trình bày cho chúng ta: thụ tạo có sự khiêm hạ đã được Đấng Tối Cao đoái nhìn. Thật vậy, phép Rửa mang những nét Thánh Mẫu cần được đề cao. Về điểm này, cả truyền thống Đông phương lẫn Tây phương đều minh nhiên ghi nhận những nét ấy. Chẳng hạn, Thánh Cyrillô thành Alexandria nhận xét rằng nhờ Đức Trinh Nữ Rất Thánh mà các tín hữu đạt tới ân sủng của phép Rửa. Ở Tây phương, chính Thánh Lêô Cả là người đặc biệt nhấn mạnh mối tương quan mẫu mực giữa Đức Kitô, Đấng sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, và các Kitô hữu, những người được sinh ra bởi Hội Thánh Trinh Nữ.
Không để mình bị kiêu ngạo lôi cuốn
Sự mong manh của con người càng hữu hình và hiển nhiên khi những sức mạnh tác động lên nó càng dai dẳng. Điều quyết định sự sa ngã của con người chính là việc coi những sức mạnh tiêu cực ấy, những lời mời gọi ấy, như những yếu tố giúp thành toàn bản thân, và do đó, thích nghi theo chúng. Từ đó phát sinh sự kiêu ngạo, điều mà, như G. Marcel nhắc nhở chúng ta, khi thái quá trong việc chăm lo cho bản thân, tước khỏi chúng ta sự cởi mở vốn cho phép tôi nắm bắt điều khác-với-tôi. Chính ở đây xuất hiện một câu hỏi căn bản liên quan đến con người và người Kitô hữu.
Kitô giáo: nguồn gốc của thảm họa sinh thái?
Chúng ta hãy lùi lại một bước nhỏ và bắt đầu phần mới này bằng một nhận xét khởi đi từ những gì người ta đọc và nghe thấy: Kitô giáo thường bị cáo buộc là phần nào chịu trách nhiệm về thảm họa sinh thái đang hiện ra trước mắt chúng ta, và điều đó bắt nguồn từ một cách đọc và giải thích sai lầm và hời hợt về (St 1,28). Ngày nay làm sao trả lời những lời cáo buộc như thế? Chúng ta có thể khẳng định ngay rằng, nếu muốn nói đến thảm họa, thì phải quy nó cho lối tư duy duy khoa học và duy vật đã góp phần tách rời vũ trụ khỏi Thiên Chúa. Việc con người đón nhận các sự vật từ Thiên Chúa, chiêm ngắm chúng và coi chúng như thể, ngay lúc này, chúng đang ra từ tay Người, đưa chúng ta trở lại với dấn thân nền tảng mà con người đã lãnh nhận từ Thiên Chúa: tham gia và cộng tác cách hữu hiệu vào công trình của Người. Vậy điều cần phải nói, khi điều chỉnh lại cách diễn tả ban đầu, có thể là thế này: không phải Kitô giáo đã tạo điều kiện cho việc khai thác vũ trụ bừa bãi, với mọi sự mất cân bằng bi thảm phát sinh từ đó, mà là một cách hiểu sai lạc về tính tôn giáo như một hiện tượng nối kết con người với Thần Linh và với Đấng Tuyệt Đối. Sự méo mó ấy đã gây ra nhiều hậu quả: chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa hiệu năng, chủ nghĩa duy kỹ thuật, những thứ đã làm suy thoái con người và vũ trụ, làm lu mờ rất nhiều khả năng nhìn thấy nơi chính mình dấu vết của Thần Linh.
Một cái nhìn mới và chiêm niệm về công trình tạo dựng
Nhưng, khi đã đến điểm này, cần có một nền thần bí nào để chiêm ngắm vũ trụ? Chắc chắn có thể theo một lối tiếp cận quy chiếu về các chuẩn mực Đông phương, bằng cách sử dụng một số yêu cầu, gợi ý và đề xuất, nhưng với điều kiện không trượt vào một chủ nghĩa hỗn dung tôn giáo, khi thì tinh vi, khi thì lộ liễu, qua việc hội nhập những chủ đề không thuộc về đức tin của chúng ta. Một con đường khả dĩ đầu tiên, nhưng cần phải lưu ý, chính là con đường vừa nêu. Tuy nhiên, bên cạnh con đường ấy còn có con đường do Kinh Thánh đại diện, trở thành tấm gương qua đó công trình tạo dựng tỏ hiện cho chúng ta và trước tấm gương ấy có thể thực hiện một cuộc suy niệm. Trong Kinh Thánh, nhất là trong Cựu Ước, chúng ta gặp thấy một số lượng đáng kể những cách đọc lại các biến cố tạo dựng, và trong phần lớn trường hợp, đó là những bản văn có nền tảng và chiều kích khôn ngoan. Trong số những bản văn ấy, bản văn kinh điển là (Cn 8,22-31), không chỉ dẫn tới việc cử hành Thiên Chúa Tạo Hóa, mà còn tái khẳng định một sự loại suy với con người. Chúng tôi xin trích lại bản văn, giữ nguyên sự phân chia các câu:
Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa phán như sau:
Chúa đã dựng nên ta
lúc khởi đầu hoạt động của Người,
trước mọi công trình của Người, từ thuở ấy.
Ta đã được thiết lập từ muôn thuở,
từ nguyên thủy, từ khi trái đất khởi nguồn.
Khi vực thẳm chưa có, ta đã được sinh ra,
khi chưa có những mạch suối đầy nước.
Trước khi nền móng núi non được đặt vững,
trước khi có đồi cao, ta đã được sinh ra.
Khi Người chưa làm nên đất đai và đồng ruộng,
cũng chưa làm nên những hạt bụi đầu tiên của thế gian.
Khi Người củng cố các tầng trời, ta đã có mặt.
Khi Người vạch một vòng tròn trên mặt vực thẳm.
Khi Người làm cho mây đọng lại trên cao,
khi Người củng cố các nguồn mạch của vực thẳm.
Khi Người định ranh giới cho biển cả,
để nước không tràn qua bờ.
Khi Người đặt nền móng cho trái đất,
bấy giờ ta ở bên Người như một kiến trúc sư
và là niềm vui thích của Người mỗi ngày,
hằng vui đùa trước nhan Người mọi lúc.
Vui đùa trên mặt địa cầu,
đặt niềm vui thích của ta giữa con cái loài người.
Ở đây, Đức Khôn Ngoan được trình bày cách rất xác đáng với những nét nhân hình của con người, và điều đó giúp suy tư về cách thức con người có thể chiêm ngắm thế giới và hành động trong đó với tinh thần hiệp thông, với ý thức khiêm tốn và kín đáo về những giới hạn của mình, đồng thời ý thức rằng mình được đặt trong Mầu Nhiệm tình yêu đã tạo dựng nên mình. Chính điều này đã là một điểm khởi đầu phong phú cho một chân trời mới có thể mở ra cho con người. Khi đặt mình trong nhãn quan tôn giáo này, được hiểu như tình trạng gắn kết với thần linh, đồng thời nhìn thế giới với những sự mất cân bằng thường do chính mình gây ra hoặc khơi lên, con người rơi vào một trạng thái lo âu khiến họ tự hỏi liệu có thật sự tồn tại một lối thoát hay không.
Sự khiêm nhường đẹp lòng Chúa
Điều rất quan trọng là làm sáng tỏ khái niệm khiêm nhường, một khái niệm chung cho cả thần học lẫn triết học.
Khiêm nhường là gì?
Nếu xét rằng khiêm nhường bắt nguồn từ humus (đất), người ta sẽ hiểu rằng khiêm nhường chẳng gì khác hơn là sự quy chiếu về nơi chốn từ mẫu của nguồn gốc, từ đó con người được lấy ra: Ađam cũ và Ađam mới, tức là con người Giêsu Kitô. Trong cả hai trường hợp, đó là một mảnh đất trinh nguyên. Vì thế, khiêm nhường gắn liền với sự trinh khiết, là hình thức đích thực của sự thánh thiện, được hiểu như sự tách biệt khỏi tất cả những gì, bằng cách này hay cách khác, có thể làm hư hỏng và làm lu mờ. Tuy nhiên, tách biệt không có nghĩa là tha hóa. Thư gửi tín hữu Do Thái, khi nói về Đức Kitô, Đấng đi vào thế gian để thực hiện hy lễ mới, đã nhấn mạnh bằng những lời hùng hồn tầm quan trọng của thân xác (x. Dt 10,5-10). Điều đó có nghĩa là, thay vì sự tha hóa, mà đối với tư tưởng vô thần là dấu ấn của con người tin vào Thiên Chúa và đặt niềm hy vọng nơi Người, và vì thế trở nên trống rỗng và nghèo nàn, thì sự thánh thiện-tách biệt lại biểu thị sự gặp gỡ và tham dự, đến mức công bố chiến thắng của sự sống. Thiên Chúa tiến về phía con người, đảm nhận cuộc sống trần thế và tính chất bền vững của hữu thể con người, để con người được nâng lên. Vậy, khiêm nhường, trong mối tương quan với đất như nơi chốn của nguồn gốc, trở thành điều kiện không thể thiếu để dò thấu các mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, trong đó Đức Trinh Nữ Rất Thánh giữ một vai trò nền tảng. Về phần Mẹ Thiên Chúa, đó là một nhân tính mà, dù trong sự tinh tuyền và vô tội của mình, không loại bỏ mối tương quan với nhân tính của chúng ta, một nhân tính tội lỗi và không ngừng bị Mysterium iniquitatis rình rập, nhưng đúng hơn được xác định nơi hữu thể của Mẹ là Mater misericordiæ và Refugium peccatorum. Hai tước hiệu thuộc về lex orandi của Hội Thánh và diễn tả một lex credendi hướng tới một đời sống Kitô hữu vững vàng và mạnh mẽ hơn, được dệt bằng lòng thương xót và bằng những việc làm không chỉ tốt lành, mà còn thích hợp cho sự hòa giải. Hành động từ mẫu của lòng thương xót, đó là điều Đức Maria thực hiện, và, trước đó nữa, là hành động của sự hiệp nhất liên lỉ giữa Mẹ và loài người. Trong một trong những bài giảng đẹp nhất của mình, Thánh Germanô thành Constantinopolis, khi nói về cuộc An Giấc của Đức Trinh Nữ Rất Thánh, nhấn mạnh chính điều này: Mẹ Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người, nhưng Mẹ tiếp tục canh giữ toàn thể loài người. Sự hiện diện của lòng thương xót, sự hiện diện mà, trong tương quan với Đức Kitô, tạo thuận lợi cho sự hòa giải giữa trời và đất, nhưng tất cả những điều đó là vì Đức Maria là mẫu mực của sự hoàn thiện. Theo nghĩa đó, việc khôi phục và xem xét chăm chú tước hiệu kinh cầu Virgo inviolata, xuất hiện trong SdM ở số 108, tỏ ra hoàn toàn chính đáng và hợp lý. Khi nối kết Đức Maria với công trình tạo dựng, điều đó không ngăn cản chúng ta nhìn sự vắng bóng bạo lực ấy như một sự trở về và một sự khôi phục thực sự tình trạng nguyên thủy của trái đất. Vậy, khiêm nhường không phải là sự ngụy trang, mà là sự tự nhiên trong đó người ta tỏ lộ con người thật của mình, không biến đổi, như mình đã được Thiên Chúa tạo dựng lúc ban đầu cho một mối tương quan toàn vẹn với công trình tạo dựng.
Kh 12: một đề nghị luôn mang tính thời sự
Virgo Inviolata không chỉ là một lời mời gọi con người khước từ bạo lực hay lối suy nghĩ bạo lực của sự khai thác, mà còn là việc đặt lại vào trung tâm, như một ký ức tác động, nếu có thể nói như vậy, tình trạng hòa hợp của thuở ban đầu, không phải để hoài tiếc một “thời hoàng kim” tưởng tượng, nhưng để hành động cho một môi trường phù hợp hơn với phẩm giá của con người được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Thật rất thích hợp khi xem xét bản văn Kinh Thánh (Kh 12). Người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, theo cách diễn tả xác đáng của H. Urs von Balthasar, là hình ảnh của một “Hội Thánh hoàn toàn mang nét Thánh Mẫu”, tràn ngập ánh sáng của Thiên Chúa, đối nghịch với con rồng đỏ, kẻ chỉ có thể gây ra hỗn loạn và sự dữ (x. Kh 12,4). Và cả cuộc chạy trốn hai lần của người phụ nữ, khi thấy mình bị đe dọa, cũng mang một ý nghĩa mới: đó không phải là sự trốn tránh trách nhiệm của mình, mà muốn là một lời cảnh báo cho Hội Thánh đừng từ bỏ tình trạng không ngừng chiến đấu cho sự sống của mình. Một cuộc chiến có thể được tiến hành không phải bằng bạo lực, lấy ác báo ác, nhưng bằng sự kết hợp liên lỉ với Thiên Chúa. Một trong những ý nghĩa sâu xa nhất của (Kh 12) thấy chính nhân loại được biểu trưng nơi người phụ nữ, mà Israel xưa và Hội Thánh của thời mới là thành phần trọn vẹn và tốt đẹp nhất trong nỗ lực làm chứng, người phụ nữ ấy ở trong một tình thế khó khăn vì những đe dọa của con rồng, rồi sau đó hoàn tất một định mệnh vinh quang có khả năng khơi dậy hy vọng trong những chặng vượt qua khác nhau. Con người được tự do lựa chọn: hoặc đi theo con rồng của sách Khải Huyền, kẻ ngày nay vẫn tiếp tục làm xáo trộn các thế quân bình bằng tổng thể của nhiều ý thức hệ, các hệ thống và các bộ luật hủy diệt trên diện rộng, hoặc hướng nhìn về Virgo Inviolata, nghĩa là nhận ra vinh quang mà Thiên Chúa đã kêu gọi thế giới đạt tới. Không phải một định mệnh hủy diệt hay vô danh, nhưng là sự phục hồi giá trị của sự sống, vì chỉ qua sự sống mới có thể dò thấu sự cao cả và quyền năng của Thiên Chúa, một quyền năng mà con người có thể tham dự và trở nên khí cụ, và điều này hoàn toàn diễn ra trong mầu nhiệm Vượt Qua, mà bản văn (Kh 12) ám chỉ cách mạnh mẽ. Sự dấn thân của người Kitô hữu trong thế giới tự bản chất là dấn thân cho sự sống, để sự sống chiến thắng. Trong chương trình sự sống ấy có Mẹ của Chúa, mảnh đất khiêm nhường và trinh khiết, Đấng chỉ cho con người, trong Đức Kitô, ánh sáng để thoát khỏi những con đường không lối về và sức mạnh để không khuất phục trước những sự quyến rũ và những trào lưu của một thứ quảng cáo và một thứ bạo lực vừa trơ trẽn vừa điên cuồng. Song song với Đức Kitô, Anpha và Ômêga của công trình tạo dựng, và được Thánh Thần nhào nặn, Đức Maria tỏ mình ra như mảnh đất trinh nguyên của thuở ban đầu, nơi sự sống sinh sôi cách thanh thản (x. St 1,24), đồng thời Mẹ biểu thị thực tại cuối cùng làm chứng cách cụ thể cho chiến thắng của sự sống trên sự chết và trên biết bao biểu hiện của sự dữ đang gây chiến với sự sống và với con người (x. Kh 12,17).
Vẻ đẹp và sự khôn ngoan của Đức Maria, những chuẩn mực cho con người
Trong một bài diễn văn năm 1992, Đức Gioan Phaolô II nhận xét rằng, nơi Đức Kitô, con người hoàn hảo, “dự án nhân học của Thiên Chúa đã đạt tới sự hoàn hảo tuyệt đối. Vậy, nơi cội rễ của Đức Kitô, việc Người được thụ thai trong lòng Đức Maria, và nơi việc Người sinh ra vào sự sống chung cuộc, từ ngôi mộ còn nguyên vẹn, có một “yếu tố trinh khiết” có tầm quan trọng lớn đối với hữu thể của Người, đối với tính mẫu mực của Người cho mọi môn đệ của Người”. Vì lý do đó, mọi người nam và mọi người nữ chiêm ngắm Đức Maria như “tấm gương đặt trước công trình tạo dựng đang khao khát được tôn trọng sự toàn vẹn của mình” không thể dửng dưng trước lời khẩn cầu hòa bình đang dâng lên từ trái đất qua những tiếng nói của thiên nhiên. Về điểm này, thật ý nghĩa những lời mà SdM dùng để kết thúc phần bàn về các mối tương quan giữa Đức Maria và vũ trụ: “Maria thành Nadarét đã không phải chịu hư nát. Sự suy thoái và ô nhiễm là xa lạ đối với Mẹ”. Tota pulchra es Maria. Câu này không chỉ giới hạn ở một tước hiệu kinh cầu đơn thuần, dù đầy gợi hứng, mà còn biểu lộ chiều sâu của một tình trạng có thật. Nếu, như Thánh Gioan Đamascênô nhận xét trong Bài giảng về cuộc Biến Hình của Chúa, con người tự bản chất là một tiểu vũ trụ, đến mức mang trong mình mối dây liên kết của mọi yếu tính hữu hình và vô hình, thì sự hiện diện của Đức Maria, dấu chỉ của một nhân tính hoàn hảo, thúc đẩy chúng ta suy nghĩ theo chiều hướng của thuở ban đầu, nơi sự tốt lành của những sự vật Thiên Chúa tạo dựng, nhờ sức mạnh của sự hài hòa, được kết hợp với vẻ đẹp, và điều đó là vì toàn thể công trình tạo dựng được định hướng về một télos làm cho nó được thành toàn, và đó chính là Thiên Chúa. Tiếp tục bài giảng của mình, Thánh Gioan Đamascênô nhận xét rằng Chúa, Đấng tạo dựng và cai quản vũ trụ, đã vui lòng để nơi người Con duy nhất đồng bản thể với Người, sự hợp nhất giữa thần tính và nhân tính được thực hiện, và qua nhân tính, sự hợp nhất của toàn thể công trình tạo dựng, để Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự. Vì thế, có thể tiếp tục trên con đường ấy và phát triển những đòi hỏi của nó bằng việc xây dựng một nền mỹ học thần học không chỉ giới hạn ở việc nói về vẻ đẹp, mà để cho vẻ đẹp nói với con người đương đại.
Vẻ đẹp của Đức Maria và vẻ đẹp của công trình tạo dựng
Cần lưu ý rằng, nếu sự hợp nhất giữa công trình tạo dựng và thần tính đã được thực hiện qua ngôi vị của người Con vĩnh cửu và đồng bản thể, thì điều đó làm cho vẻ đẹp của công trình tạo dựng không thể bị quy giản vào những trào lưu hay những thị hiếu nhất thời, nhưng đúng hơn là ngôn ngữ mà qua đó Thiên Chúa không chỉ nói trong công trình tạo dựng, mà đồng thời còn đảm nhận nó. Khi nói ngôn ngữ ấy, con người có thể chứa đựng và tìm lại chân lý, sự tốt lành, sự hợp nhất và vẻ đẹp mà mình mang trong bản thân, vì đã được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và những điều ấy, trong tổng thể của chúng, làm cho con người được thành toàn vừa như một tín hữu vừa như một thụ tạo, dù là nam hay nữ. PAMI đã vọng lại điều đó trong văn kiện của mình, khi đón nhận lại và đào sâu điều mà Đức Phaolô VI, ngay từ giữa thập niên 70, đã nhấn mạnh chính về vẻ đẹp qua hình ảnh Người Phụ Nữ của sách Khải Huyền. Nếu, như văn kiện Mẹ của Chúa còn nhận xét, con đường của vẻ đẹp đã chuyển từ “công cụ mục vụ” sang phạm trù “công cụ nghiên cứu thần học”, thì suy tư Thánh Mẫu học chắc chắn đã không phải là một chướng ngại hay một định kiến, trái lại, đã tạo thuận lợi rất nhiều cho sự chuyển đổi ấy. “Đấng Tota pulchra, văn kiện nhận xét, ở trong sự tiếp xúc hết sức mật thiết với Thiên Chúa, chính nguồn mạch của vẻ đẹp, vẻ đẹp mà Mẹ lãnh nhận cách dồi dào và nhờ đó Mẹ được nhào nặn trọn vẹn. Sau Đức Kitô, Mẹ lan tỏa vẻ đẹp ấy trên vũ trụ và gửi trả nó, được biến đổi thành bài ca ngợi khen và tạ ơn, về lại Nguồn Mạch từ đó nó phát xuất”. Tất cả những điều này được tìm thấy trong Bài giảng về cuộc An Giấc của G. Palamas, khi vị đại đan sĩ và giám mục thành Thêxalônica đặt Đức Trinh Nữ vào vị trí trung gian giữa hai thế giới, nhân loại và thần linh: “Chỉ mình Mẹ là ranh giới giữa bản tính thụ tạo và bản tính không được tạo thành, và không ai có thể đến với Thiên Chúa nếu không được Mẹ soi chiếu bằng ánh huy hoàng thần linh. Thiên Chúa ở giữa Mẹ, Mẹ sẽ không lay chuyển (Tv 45,6)”. Chắc chắn có thể nhận thấy trong bản văn này một chiều kích Hội Thánh, nhưng điều đáng quan tâm là vị trí, ưu tiên so với chiều kích Hội Thánh, mà Đức Maria chiếm giữ như vertex creationis, đến nỗi Đức Maria chắc chắn biểu thị lời “có” của Thiên Chúa đối với con người, nhưng là một lời “có” mà Thiên Chúa không nói ra từ bên ngoài, mà bằng cách đảm nhận và nâng cao phẩm giá công trình tạo dựng mà Đức Maria là phần ưu tú nhất, đến mức phê chuẩn tiến trình theosis tiệm tiến của công trình ấy.
Vai trò của Đức Maria
Ở đây chúng ta có một câu hỏi căn bản được đặt ra với một sự cấp bách nhất định: làm sao có thể nói về Đức Trinh Nữ Rất Thánh như Nữ Tỳ của Chúa, được chính Người đặt để phục vụ sự sống và vũ trụ? Chúng ta có thể rút ra câu trả lời, một lần nữa, từ Kinh Thánh, và cách riêng, khi xem lại trình thuật tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12).
Trở lại Cana
Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nói rằng, trong trình thuật này, có ít nhất ba lý do đáng quan tâm: một tổng thể các yếu tố, biểu tượng và dấu chỉ liên kết với nhau; thái độ cộng tác đặc trưng của Đức Maria; và, ở trung tâm và quan trọng hơn cả, quyền tối thượng của Đức Kitô trên công trình tạo dựng, một quyền tối thượng trong viễn tượng canh tân và hoàn tất. Những lý do ấy không tách rời nhau, nhưng sống động và tìm thấy ý nghĩa của mình trong sự liên kết hỗ tương. Về hệ biểu tượng ẩn bên dưới bản văn, A. Serra đã làm nổi bật rất rõ, khởi đi từ ý nghĩa của con số 6, con số của các chum nước, những chum “tượng trưng cho sáu thời kỳ của thế giới, trong đó Torah đã được mặc khải. Vì mỗi chum hiện thực con số 6, tức là sự toàn thể, chúng ta có thể nói rằng mỗi thời kỳ của Lề Luật Môsê đều tiến về sự viên mãn được biểu thị nơi Đức Kitô”. Với sự hiện diện của Người, bằng lời nói và việc làm, Đức Kitô hoàn tất điều đã được mặc khải trước Người và hướng điều ấy về bản thân Người: khi xuất hiện trong lịch sử, Đức Kitô biểu thị sự toàn thể tối hậu của lịch sử. Từ đó cũng phát sinh yếu tố thứ hai, được cấu thành bởi việc biến nước thành rượu: Torah, Cựu Ước, được thay thế bằng Lề Luật mới, Lề Luật của Giao Ước mới giữa Thiên Chúa và nhân loại, được tóm kết và hoàn tất nơi ngôi vị Đức Kitô, Đấng làm mới mọi sự (x. Kh 21,5). Vào toàn bộ dự án được Con Thiên Chúa thực hiện ấy, Đức Maria âm thầm cộng tác, chỉ giới hạn ở việc nhận ra tình trạng thiếu rượu trong bữa tiệc ấy, một hoàn cảnh có thể làm hỏng sự thành công của bữa tiệc. Đó là một thái độ hết sức kín đáo, cùng với sự tham dự vui tươi vào một biến cố, như tiệc cưới, cử hành chiến thắng của sự sống. Và chính chiến thắng ấy mà Con Thiên Chúa, qua phép lạ đầu tiên của Người, bắt đầu ấn định trong thế giới và trong lịch sử. Nếu nhờ Người mà giá trị sâu xa nhất và cao cả nhất của sự sống đi vào thời gian, thì Đức Maria, ngoài việc là người đầu tiên được hưởng lợi từ đó, đồng thời cũng là người đầu tiên trở thành người cổ võ giá trị ấy. “Mối phúc của Đức Maria chính là nhờ khả năng của Mẹ để cho mầu nhiệm Thiên Chúa đi vào đời mình và làm cho mầu nhiệm ấy trở nên hữu hiệu nhờ sự cộng tác của Mẹ”. Vậy, không có gì đáng ngạc nhiên về sự ân cần của Mẹ, kèm theo sự kín đáo sâu xa, khi nhận thấy tiệc không còn rượu, và bên cạnh đó, cũng không có gì quá lạ lùng khi Mẹ hướng về Đức Kitô để đón nhận từ Người sự mới mẻ được biểu thị qua việc, với rượu của Người, Người, như Thiên Chúa, lại tự hiến mình như Phu Quân của toàn thể nhân loại. Việc biến nước thành rượu góp phần làm cho bầu khí của một thế giới mà chúng ta biết là đang bị thương tổn bởi đủ mọi thứ sự dữ và mất cân bằng trở nên vui tươi. Nhưng, dù với những khó khăn của mình, thế giới vẫn luôn là thụ tạo của Thiên Chúa, cần được biến đổi. Theo nghĩa đó, có thể đạt tới một sự hiểu biết mới về lịch sử này và về công trình tạo dựng, không như những thực thể thuần túy qua đi hay những thực thể mà người ta có thể thống trị, nhưng đúng hơn như những nơi chốn mà Thiên Chúa muốn mở tiệc với chúng ta và vì chúng ta. Và lễ hội tuyệt hảo là Lễ Phục Sinh, biến cố trong đó con người và công trình tạo dựng lại được mặc lấy vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà Đức Maria đã được tham dự, Trinh Nữ được Truyền Tin và đầy ân sủng (x. Lc 1,28) và Trinh Nữ Hồn Xác Lên Trời, Đấng mà các Kitô hữu và mọi người có thể hướng nhìn như hướng về thụ tạo “nơi đó các kỳ công của Thiên Chúa, các kỳ công của ân sủng, đã được thực hiện” và được mời gọi tiến bước về cùng một đích điểm.
Đức tin và chứng tá
Trước hết, chủ đề đức tin: câu 11 nhắc chúng ta về sự tỏ mình của Đức Kitô, đi kèm với sự kiện “các môn đệ đã tin vào Người”. Bước đầu tiên để phục vụ đích thực là đức tin: gắn bó với lời đề nghị của một Thiên Chúa, Đấng cách nhưng không đã trở nên tôi tớ để giải thoát con người khỏi mọi điều xúc phạm đến Người. Cả chúng ta nữa, được đức tin nâng đỡ, với tư cách là môn đệ Đức Kitô, cũng ở trong một hoàn cảnh tương tự như những người đã chứng kiến phép lạ Cana. Bên cạnh đức tin, và phát xuất từ đức tin, là một chứng tá nhất quán hướng tới việc cổ võ sự sống cách thực sự. Dĩ nhiên, lời ca ngợi và lòng tôn kính dành cho Đức Maria Rất Thánh không thể tách biệt và cô lập khỏi một lối sống nhất quán, luôn gắn kết với vòng tuần hoàn lex orandi, lex credendi, lex vivendi, trong đó thực hiện một sự hiệp lực của các yếu tố hữu ích cho một sự phục vụ làm cho sự cao cả của Đấng đã đến để tái thiết những đổ nát xưa trở nên đáng tin (x. Is 61,1-2 và Lc 4,16-21). Tất cả những điều này là sự sống được phục hồi với một sức mạnh lớn hơn sức mạnh của con rồng trong sách Khải Huyền, và, như sự sống được phục hồi và được đề cao, dẫn tới lễ hội, một lễ hội chỉ đích thực là lễ hội nếu cử hành sự hài hòa và sự hiệp thông của con người và vũ trụ với Thiên Chúa, Nguồn Gốc của họ, và khi cử hành, luôn sống với những lựa chọn nhất quán. Khách dự tiệc cưới không ăn chay, không tang chế hay sầu khổ khi chàng rể còn ở với họ (x. Mt 9,15), nhưng mở tiệc, không phải là sự hưng phấn hỗn loạn và ồn ào, mà đúng hơn là niềm vui được gặp lại Đấng ban sự sống và ban cách dồi dào (x. Ga 10,10). Khi thiếu vắng Tác Giả của Sự Sống, khi người ta đẩy Người vào một góc với ý nghĩ sai lầm rằng Người có thể giới hạn không gian của con người, thì chẳng bao lâu người ta sẽ bước vào thế giới của sai lầm, của sự mù mờ và của sự bất toàn. Nhưng trên hết, khi đánh mất ý nghĩa của sự sống, người ta tiếp thu và ôm lấy những mô hình khuyến khích sự khinh miệt sự sống và liên minh với những hành động mà, như chúng tôi đã nói, xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa và vũ trụ.
Kết luận
“Hãy xa lánh điều ác với lòng ghê tởm; hãy gắn bó với điều thiện” (Rm 12,9). Lời mời gọi khẩn thiết của Thánh Phaolô gửi cộng đoàn Rôma vượt qua không gian và thời gian và đến với chúng ta trong sự tươi mới của nó. Vậy, “Hãy xa lánh điều ác với lòng ghê tởm” chỉ là một khía cạnh của đời sống Kitô hữu. Một sự ác không chỉ là tội lỗi cụ thể, dù nhỏ hay lớn, mà còn là, theo một cách có vẻ vô hại hơn, sự giới hạn, sự bất toàn vốn có của loài người. Xa rời giới hạn ấy có nghĩa là không trì trệ trong sự tầm thường và không đón nhận cách thiếu phê phán những khuôn mẫu mà ngày nay được đề ra như những thứ mang lại sự thành toàn, một sự thành toàn chẳng bao lâu tỏ ra là ảo tưởng. Vượt qua giới hạn ấy có nghĩa là lớn lên và làm cho lớn lên. Chính ở đây xuất hiện sức thuyết phục của một diễn từ về Đức Maria. “Chính Mẹ là người phụ nữ mà “văn hóa” của Mẹ đã là “sự vun trồng một con người” đến mức kinh nghiệm của Mẹ về điều này trùng khớp với “sự phụng thờ” chỉ dành riêng cho Thiên Chúa”. “Hãy gắn bó với điều thiện” là phần thứ hai của lời khuyên nhủ của Thánh Phaolô, mà có thể quy về cách diễn tả xác đáng “sự vun trồng một con người”. Cách diễn tả ấy chỉ cho chúng ta hai hướng phục vụ của Đức Maria: phục vụ con người và, qua con người, phục vụ thế giới. Phục vụ con người, do đó là phục vụ sự sống, và hơn thế nữa, phục vụ Tác Giả của Sự Sống: sự gắn bó, được dệt bằng sự hiệp thông, với Sự Thiện Tối Cao của nhân loại, là Nguồn Mạch đích thực của Sự Sống, dấu chỉ của một sự mới mẻ luôn hiện diện trong tính thời sự của nó. “Hãy gắn bó với điều thiện”: đây không phải là một điều thiện tĩnh tại, mà chúng ta đang đứng trước một Ngôi Vị thúc đẩy chúng ta làm điều thiện và làm cho con người trở thành chủ thể của một hành động thiện hảo cho chính mình, cho người khác và cho vũ trụ. Nhất là và rõ ràng hơn cả trong trình thuật Cana, Đức Maria, Evà Mới, người đầu tiên được cứu chuộc, có thể dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa, để con người cộng tác với Người trong việc biến đổi, trong việc vui tươi cổ võ sự sống. Lễ hội của sự sống biểu thị chiến thắng của đức tin. Vậy, có thể nhận xét rằng cách thức Đức Maria đặt mình “trước mặt chúng ta như ánh sáng cho những vấn đề của nhân loại chúng ta, đồng thời là sự hiện diện, tính mẫu mực và lời mời gọi cộng tác với Mẹ ngày nay, để làm cho nền văn hóa tình yêu của Thiên Chúa, là sự sống và Phục Sinh, trở nên hiện diện”.
Vì thế, cần có một thái độ tràn đầy sức sống, lạc quan nhưng không hời hợt: bắt đầu lại từ tính tích cực và vẻ đẹp của công trình tạo dựng để qua đó nhìn thấy Vẻ Đẹp Nguyên Thủy, có một khuôn mặt và một danh xưng: Đức Giêsu Nadarét, nơi Người mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” (x. 2 Cr 1,20). Một lời “có” với ơn cứu độ, với sự sống và với nền văn hóa phát xuất từ sự sống. Sau cùng, một lời “có” đầy uy lực, trong đó mọi thái độ nói về việc cổ võ và tôn trọng sự sống được định hình. Ở đây Đức Maria bước vào với trọn quyền, và chính nhờ sự hội tụ các ý hướng, là mẫu gương cho con người, Mẹ mang lấy sự cao cả mà Pierre Teilhard de Chardin, theo phong cách rất riêng của ông, mô tả là “viên đá quý lấp lánh của Vật Chất, Viên Ngọc Trai của Vũ Trụ và điểm nối kết của vũ trụ với Đấng Tuyệt Đối ngôi vị nhập thể, Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Nữ Vương và Mẹ của muôn loài…”. Một cái nhìn đầy cuốn hút và, nếu muốn, có thể được đào sâu thêm, nhưng chỉ riêng sức mạnh đột phá của nó cũng đủ để củng cố niềm hy vọng vào một sự cải thiện thế giới của chúng ta, nhắc nhở con người về ơn gọi độc đáo của mình là cộng tác viên của Đấng Tạo Hóa và người bảo vệ vũ trụ.
Để đào sâu sự phục vụ của Đức Maria đối với đời sống của Hội Thánh và của những người đã chịu phép rửa, tông huấn Marialis Cultus của Đức Phaolô VI trình bày Đức Maria như mẫu gương của sự khiêm nhường và sự phục vụ Kitô giáo.
Đào sâu việc học của bạn: hãy khám phá Thánh Mẫu học, Thần học về Đức Maria, các cuộc hiện ra của Đức Maria và Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học.
Tài nguyên học thuật về Đức Maria: Hãy đào sâu việc đào tạo của bạn về Thánh Mẫu học và Thần học về Đức Maria với Học viện Locus Mariologicus. Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học, một chương trình đào tạo học thuật xuất sắc.
Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học
Bạn có muốn đào sâu việc đào tạo của mình về Thánh Mẫu học không? Tìm hiểu Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học của Locus Mariologicus – một chương trình đào tạo học thuật kết hợp sự chặt chẽ thần học, đời sống thiêng liêng và truyền thống sống động của Hội Thánh.
Bạn có muốn học Thánh Mẫu học một cách nghiêm túc không?
Bài viết này được hình thành từ các tác phẩm trong thư viện của Locus Mariologicus. Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học dẫn bạn đến cùng nguồn mạch ấy, với sự đồng hành học thuật: Kinh Thánh, các Giáo phụ và Huấn quyền, từ tín điều đầu tiên đến các vấn đề đương đại.
Responses