Đức Maria, người cuối cùng lắng nghe bảy lời sau hết của Chúa Giêsu

Maria, a última ouvinte das sete últimas palavras de Jesus

Đức Maria lắng nghe bảy lời sau hết của Chúa Giêsu. Đức Maria đã hoàn tất kinh nghiệm của mình như một người nữ môn đệ, đã đứng dưới chân Thầy, Đấng giờ đây được nâng lên tòa giảng cao nhất thế gian, để lắng nghe Người cho đến hơi thở cuối cùng. Như thế, Mẹ đã nghe bảy lời sau hết của Người, những lời qua đó Người đã đánh dấu cơn hấp hối thiên sai của mình.

Lời thứ nhất: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm Lc 23,33-34)

Không một ai, dù dưới chân Thập giá ngày hôm ấy, hay sau này, suốt dòng lịch sử cứu độ, đã đón nhận với một tấm lòng rộng mở hơn và đã hiểu với một trí tuệ đức tin sâu xa hơn Đức Maria. Là người mẹ mà trong lòng dạ mình bình an đã nhập thể, bình an ấy chính là Đức Kitô (x. Ep 2,14), Mẹ đã tham dự vào biến cố tha thứ tột cùng được cử hành trên Thập giá. Đức Trinh Nữ Mẹ đã làm cho kinh nghiệm về ơn tha thứ của Đấng chịu đóng đinh trở nên khả thi, ơn tha thứ ấy chỉ được nói rõ ra qua lời ngỏ với người trộm lành (x. Lc 23,43), bởi vì trên Thập giá Đức Kitô thực thi đức ái của sự tha thứ trong một viễn tượng phổ quát và cánh chung: Đức Maria, một cách hiền mẫu, làm cho việc cử hành ơn tha thứ này được thực hiện bằng ngôn ngữ khách quan của sự thinh lặng.
Sự tha thứ tạo nên một chỗ đứt trong các mắt lưới của lôgic tội lỗi và hình phạt tương ứng, đưa vào khoảng giữa hai điều ấy thực tại tái tạo và chữa lành của lòng thương xót.
Đức Maria hiện diện, ưng thuận và tham dự, tại nơi mà ơn tha thứ được cử hành như luật của công trình tạo dựng mới được sinh ra dưới cây Thập giá. Trước vấn đề tha thứ, vốn không thể giải quyết được bằng lý trí, Đức Maria không đưa ra những lý lẽ, nhưng chỉ cho thấy một nơi chốn: Mẹ đứng dưới chân Thập giá, đồng hành với Đức Kitô, Đấng trên Thập giá thánh hiến sự tha thứ như luật của giao ước được ký kết bằng máu Người.
Việc Đức Maria hiện diện và bước đi phải trở thành đối tượng có ý nghĩa của Thánh Mẫu học, một khoa học hôm nay có trước mặt mình khả thể lớn lao là khám phá và chỉ ra những nơi chốn, nhận ra những sự hiện diện, phân định những cuộc đồng hành, tái dựng những hành trình mà Đức Maria đã đi trong lịch sử của Mẹ với tư cách là Mẹ thiên sai, trì hoãn (chứ không loại bỏ) việc thực hành thần học quen thuộc là suy tư và diễn dịch.

Đức Maria và ơn tha thứ của lời thứ nhất: thiên chức làm mẹ thiêng liêng của Đấng tha thứ trên Núi Sọ Lc 23,34)

Cũng vì thế, sự tha thứ là một thực tại hiền mẫu. Như ta thấy, Đức Maria là một người nữ của sự tha thứ theo một nghĩa rất mạnh mẽ và thiết yếu. Theo nghĩa là Mẹ đã cộng tác để đưa nguyên lý tha thứ vào lịch sử nhân loại, với hệ quả là lịch sử ấy được nguyên lý này định phẩm một cách có cấu trúc.
Mẹ đã góp phần ghi khắc trên bầu trời của lịch sử cứu độ lời tha thứ như luật của sự sống. Khi tham dự vào cuộc biến đổi ấy của lịch sử, Đức Maria đã nắm chắc thiên chức làm mẹ đồng trinh của mình, bởi Mẹ đã bày tỏ lòng tin tưởng đặc trưng của người mẹ khi tín thác vào Người Con. Đức Trinh Nữ đã hoàn toàn đánh cược đời làm Mẹ của mình vào lời nói và hành động của Người Con, bất chấp chứng cứ ngược lại được biểu lộ nơi sự thất bại của Thập giá.
Một người mẹ nuôi dưỡng lòng tin tưởng vô điều kiện nơi con mình thì không bao giờ có thể sai lầm, ngay cả khi, dưới mắt một người quan sát bên ngoài, các sự kiện xem ra không biện minh cho lòng tin tưởng ấy. Đúng hơn, chính Người Con mới sai lầm khi phủ nhận đức tin của mẹ mình.

Lời thứ hai: Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến tôi khi Ngài vào Nước của Ngài […] anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng (Lc 23,39-43)

Sự phó thác trọn vẹn của người trộm cho Đức Kitô và xác tín của anh rằng Người là Vua và việc bước vào Nước ấy tùy thuộc nơi Người, khiến ta kinh ngạc vì sự trưởng thành trong đức tin của anh. Người hiểu rõ nhất lời khẩn cầu của kẻ cùng chịu đóng đinh với Người Con chắc chắn là Người Tín Trung, Đấng luôn sống chìm sâu tột độ trong lôgic của đức tin. Mẹ biết rằng chỉ với một thái độ đức tin, Mẹ mới có thể đứng dưới chân Thập giá và người trộm mới có thể ở bên cạnh Người Con trên Thập giá. Sự thinh lặng tham dự của Mẹ cũng là một sự ưng thuận hân hoan đối với lời kêu xin của con người được cứu chuộc này trong giờ đầu tiên của Kitô giáo. Trên Gôn-gô-tha, một biến cố xem ra có thể là không đáng kể lại chiếu sáng vương quyền thiên sai của Chúa Giêsu.
Một trong hai kẻ gian phi bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu biểu lộ sự thật này một cách thấm thía, khi nói: Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến tôi khi Ngài vào Nước của Ngài (Lc 23,42). Người trộm lành là nhà Thánh Kinh học và nhà thần học:

  • nhà Thánh Kinh học vì anh biết nối kết toàn bộ truyền thống về Đấng Mêsia vương đế với Chúa Giêsu.
  • nhà thần học vì anh biết quy tước hiệu vương quyền này cho Chúa Giêsu ngay trong biến cố ít có khả năng gợi lên vương quyền nhất, khi Người đang chết trên Thập giá bằng cái chết không phải của một vị vua, nhưng của một người nô lệ.

Thật vậy, việc suy diễn trong đức tin rằng Vương Quốc cuối cùng và thiên quốc thuộc về Chúa Giêsu và rằng Người nắm giữ lối vào Vương Quốc ấy là một hành vi thần học. Chúa Giêsu lập tức xác nhận suy diễn thần học này của người trộm lành, khi đáp lại anh: Tôi bảo thật anh, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng (Lc 23,43). Thật ý nghĩa nhận xét của Đức Giáo hoàng Wojtyla trong một bài bình giải: “trong cuộc đối thoại này, chúng ta gặp thấy hầu như một xác nhận cuối cùng về những lời mà thiên thần đã ngỏ với Đức Maria trong biến cố Truyền Tin: Chúa Giêsu ‘sẽ trị vì… và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận’ (Lc 1,33)”. Quả thật, trên Thập giá, đức tin của Đức Maria bị thử thách: Lời đã ngỏ với Mẹ trong biến cố Truyền Tin hứa rằng Mẹ sẽ trở thành mẹ của một vị vua. Thiên thần đã nói với Mẹ: “Thiên Chúa sẽ ban cho Người (cho Chúa Giêsu) ngai vàng vua Đavít […] và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33). Trên Thập giá, điều ấy bị phủ nhận một cách phũ phàng: Mẹ chứng kiến cái chết nô lệ của Người Con và nghe, với trái tim đau đớn, những lời sau hết của Người. Với Thiên Chúa, Mẹ đã thề giữ lòng trung tín của tiếng Fiat để đáp lại những lời của Thiên thần đề nghị cho Mẹ thiên chức làm mẹ thiên sai. Chính với Chúa Cha mà Mẹ phải hỏi, trong lòng mình, ý nghĩa của lời tiên báo về vương quyền của Đức Kitô, đã lãnh nhận trong biến cố Truyền Tin và xem ra bị Thập giá phủ nhận.

Cũng vậy, khi xét đến sự hiện diện của Chúa Cha đằng sau Thập giá, Đức Maria có thể hiểu được đặc tính đối thoại của Thập giá, khi giải thích Thập giá như nơi chốn của cuộc đối thoại giữa Chúa Cha và Đức Kitô, Đấng đồng thời là Con của Chúa Cha và là Con của Mẹ.

Lời thứ ba: “Thưa Bà, đây là con của Bà […] Này con, đây là mẹ con” (Ga 19,25-27)

Dưới chân Thập giá, người đang lắng nghe lời thứ ba của Chúa Giêsu là Đức Maria: những lời này liên hệ đến Mẹ một cách trực tiếp và đặc biệt. Sự hiện diện của Mẹ là sự hiện diện của một người nữ sắp mất Người Con của mình. Mọi thớ thịt trong con người Mẹ đều bị chấn động bởi những gì Mẹ đã thấy trong những ngày dẫn đến cuộc Thương Khó, bởi những gì Mẹ đang cảm nhận và linh cảm lúc này, bên cạnh giá hành hình.

Lời thứ tư: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46)

Lời trao phó thứ nhất của Chúa Giêsu (“Thưa Bà, đây là con của Bà…”) cho thấy một hành vi trìu mến và hiếu thảo. Chúa Giêsu không muốn mẹ mình phải ở lại một mình. Thay chỗ mình, Người để lại người môn đệ mà Đức Maria coi là yêu dấu để làm con. Như thế, Chúa Giêsu trao cho Đức Maria một thiên chức làm mẹ mới và xin Mẹ đối xử với Gioan như con của mình.
Nhưng chính sự trang trọng của lời ủy thác ấy (Thưa Bà, đây là con của Bà), được đặt vào giữa lòng thảm kịch thập giá, chính sự tiết chế và cô đọng của những lời xem ra như một công thức gần như bí tích, khiến ta nghĩ rằng, vượt trên các tương quan gia đình, sự kiện này phải được xét trong viễn tượng công trình cứu độ, nơi đó Người Nữ – Maria đã dấn thân cùng với Con Người trong sứ mạng cứu chuộc.
Khi hoàn tất công trình ấy, Chúa Giêsu xin Đức Maria dứt khoát chấp nhận lễ dâng mà Người thực hiện về chính mình như lễ vật đền tội, giờ đây coi Gioan như con của Mẹ. Chính với giá của hy lễ hiền mẫu của Mẹ mà Mẹ lãnh nhận thiên chức làm mẹ mới này.
Với lời trao phó thứ hai mà Chúa Giêsu nói ra ( Này con, đây là mẹ con), Chúa Giêsu minh nhiên xin người môn đệ Gioan cư xử với Đức Maria như con đối với mẹ. Tình mẫu tử của Đức Maria phải được đáp lại bằng một tình con thảo. Bởi vì người môn đệ thay thế Chúa Giêsu bên cạnh Đức Maria, anh được mời gọi yêu mến Mẹ thật sự như mẹ của mình. Như thể Chúa Giêsu nói với anh: Hãy yêu mến Mẹ như Thầy đã yêu mến Mẹ. Và bởi vì nơi người môn đệ, Chúa Giêsu nhìn thấy mọi người, những kẻ Người để lại di chúc tình yêu này, nên lời mời gọi yêu mến Đức Maria như mẹ có giá trị cho tất cả mọi người.
Tin Mừng khẳng định rằng Gioan đã đón nhận Đức Maria vào giữa những gì thuộc về mình. Cử chỉ ấy của Gioan là việc thi hành di chúc của Chúa Giêsu liên quan đến Đức Maria: nhưng nó có một giá trị biểu tượng cho mỗi môn đệ của Đức Kitô, giờ đây được mời gọi đón nhận Đức Maria về nhà mình và dành cho Mẹ một chỗ trong đời sống mình.

Bởi vì, nhờ những lời của Chúa Giêsu hấp hối, mọi đời sống Kitô hữu phải dành một chỗ cho Đức Maria, không thể loại trừ sự hiện diện của Mẹ. Với những lời ấy, Chúa Giêsu thiết lập sự hiện diện của Đức Mẹ trong phụng tự của Hội Thánh, cho thấy ý muốn của Người là Đức Maria nhận được nơi mỗi môn đệ, mà Mẹ là mẹ do Chúa Giêsu thiết lập, một tình con thảo chân thành. Tầm quan trọng của Đức Maria trong phụng tự, luôn được Hội Thánh mong muốn, được suy ra từ những lời Chúa Giêsu nói trong giờ phút Người chết.

Lời thứ tư: “lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,33-39) 

Trình thuật Thánh Kinh, thuật lại tiếng kêu đã xé đôi lịch sử ngay bên Đền Thờ: một thời gian trước và một thời gian sau Đức Kitô, lẽ ra phải khiến ta rùng mình mỗi lần được kể lại. “và vào giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: Eloí, Eloí, lemá sabactáni?” (Mc 15,34). Đây vừa là một tiếng kêu vấn nạn vừa là một tiếng kêu đáp trả.
Đó là một tiếng kêu rất mạnh mẽ, mặc khải cường độ của nỗi đau thẳm sâu nhất, cho thấy cuộc Thương Khó không chỉ là một cảnh tượng kinh hoàng, nhưng là một thảm kịch chạm đến tận đáy lòng của Đấng Cứu Độ chịu đóng đinh. Đó là một lời chú giải gay gắt và xé lòng, chỉ cho thấy chiều sâu, chiều cao và chiều rộng của cả nỗi đau khổ nhân loại mà Người đã sống trên Thập giá, và ngăn cản mọi cách giải thích lãng mạn về cái chết của Chúa Giêsu.
Đó là một tiếng kêu thần học: Chúa Giêsu trích dẫn Thánh vịnh 22, cho thấy ý thức mình đang ở trong một khoảnh khắc quyết định của công trình thiên sai. Trước lời ấy, vốn đậm đặc thần học Ba Ngôi, Đức Maria đứng đó với trí tuệ cao vời của Người Tín Trung. Mẹ trực giác rất rõ sự xáo trộn bi thảm mà biến cố Thập giá đã mang lại, theo cách nhân loại, trong tương quan huyền nhiệm giữa Người Con với Chúa Cha; Mẹ an ủi Người khôn xiết bằng sự hiện diện của mình, và nhắc chúng ta nhớ, qua kinh Stabat Mater, rằng sự bị Thiên Chúa bỏ rơi phải được giải thích như một hành vi hiện diện.

Đức Maria giải thích cách thần học tiếng kêu vào giờ thứ chín Mc 15,34) và Thánh vịnh 22

Mẹ là người giải thích hay nhà chú giải tinh tế Lời của Chúa Giêsu, kể cả lời được công bố trên đỉnh cao của Torah, và Mẹ cũng là một nhà thần học sắc sảo vì biết giải thích những việc trọng đại Thiên Chúa đã làm được Thánh Kinh thuật lại (Magnificat), cũng như những lời của Giao Ước Thứ Nhất và những lời nghe được từ Chúa Giêsu, khi áp dụng chúng vào đời mình.
Cũng vậy, khi nghe tiếng kêu của Chúa Giêsu trên Thập giá, tâm hồn Mẹ vọng lại điều Chúa Giêsu đã nói với Mẹ tại Giêrusalem, trong Đền Thờ, nhiều năm trước, vào lúc gặp lại: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận lo việc của Cha con sao?” (Lc 2,49). Trên Thập giá, Chúa Giêsu chỉ nói cách thần học, bởi khi nhận lấy bản văn này làm của mình (Thánh vịnh 22), Chúa Giêsu cho thấy mối bận tâm hàng đầu của Người là sự vâng phục Chúa Cha. Như thế, sự bị bỏ rơi không phải là một biến cố ngẫu nhiên do hoàn cảnh của cuộc thử thách, nhưng thuộc về hy lễ như Chúa Cha đã muốn.
Nếu trên Thập giá Chúa Giêsu chỉ nói cách thần học, thì dưới chân Thập giá, Đức Maria chỉ giải thích những lời của Người Con cách thần học. Trong Đền Thờ, Mẹ đã hiểu chúng theo cách tâm lý: “con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con” (Lc 2,48). Câu trả lời của Chúa Giêsu cho Đức Maria và thánh Giuse thật đáng ngạc nhiên: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).
Thánh sử Luca ghi lại rằng Đức Maria và thánh Giuse “không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,50). Trong Đền Thờ, Đức Maria tỏ ra là một người nữ môn đệ chăm chú, Mẹ hiểu rằng Chúa Giêsu mời gọi Mẹ dùng với Người những cách tiếp cận và những cung giọng thần học. Dưới chân Thập giá, Đức Maria không nêu lên phản bác nào với Người Con – Thầy dạy, dù bài học Người ban là vô cùng khó và việc hiểu cùng giải mã bài học ấy còn lớn lao hơn nhiều.
Nhưng dưới chân Thập giá, người nữ môn đệ nay là một nhà thần học trưởng thành. Đức Maria giải thích tiếng kêu thiên sai của Chúa Giêsu, tiếng kêu mà Mẹ đã nghe và đã ưng thuận, không như một tiếng kêu tuyệt vọng, vốn sẽ làm thay đổi tương quan phụ tử của Thiên Chúa với Chúa Giêsu, nhưng như một tiếng kêu của sự phó mình và hiệp nhất của Chúa Giêsu với Chúa Cha, Đấng đã không thể đánh mất chút gì trong tư cách làm Cha của mình nơi thảm kịch thập giá. Đúng hơn, chúng ta phải nhận ra rằng Chúa Cha đã dấn mình vào như người Cha nhân hậu đầy lòng trắc ẩn trong cuộc thử thách của hy lễ tột cùng.

Đức Maria trao Người Con lại cho Chúa Cha: chiều kích hy tế và sự ưng thuận đầy yêu thương của người mẹ trong lời thứ sáu

Lời hoàn tất tiếng consummatum est là lời ủy thác cuối cùng của Người Con chịu khổ nạn và hấp hối dâng lên Thiên Chúa: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,44-46). Đó là những lời thánh hiến thân phận của Chúa Giêsu trên Thập giá, thân phận của Đấng được tín thác cho trái tim Chúa Cha, được trao vào tay Người, được dâng hiến cho vinh quang Người. Trên Thập giá, Chúa Giêsu chỉ cho toàn thể gia đình nhân loại thấy rằng hướng đi của ơn cứu độ là hướng nhắm tới và dẫn tới trái tim Chúa Cha. Như thế, Người cho phép giải mã Thập giá như một nút thắt của những cuộc trao phó huyền nhiệm, mang những dấu hiệu khác nhau, đang hoạt động cách huyền nhiệm trên Thập giá và chung quanh Thập giá. Đức Kitô là ông Gióp mới, Người không ngưng lòng tin tưởng nơi Chúa Cha, không bao giờ, ngay cả bên bờ cái chết.

Sự “bỏ rơi” của lời thứ tư Tv 22,2) được Đức Maria đón nhận: Mc 15,34 và đức tin trong sự thinh lặng của Thiên Chúa

Người không bước vào vương quốc bên kia với bóng tối trong tim: Người ý thức rằng mình rời bỏ đêm tối để được dẫn vào ánh sáng. Câu trả lời cho câu hỏi tại sao? thì thật hoàn hảo.
Tiếng kêu thiên sai của Đấng chịu đóng đinh vang lên trong bối cảnh của ba cuộc trao phó huyền nhiệm: 

  • sự trao phó của Người Con, Đấng hiến dâng mạng sống mình vì loài người (x. Gl 2,20. 1 Tm 2,6. Tt 2,14). 
  • sự trao phó của Chúa Cha, Đấng ban Người Con để cứu độ thế gian (x. Ga 3,16. Rm 8,32).
  • sự trao phó Thần Khí, Đấng từ Thập giá được ban xuống trên thế gian (x. Ga 19,30). 

Đức Maria cũng tham gia vào động lực trao phó ấy như Áp-ra-ham và hơn cả Áp-ra-ham: Mẹ cũng trao Người Con lại cho Chúa Cha, với tâm thức của Người Tín Trung: Thiên Chúa đã ban Người cho tôi, tôi trao Người lại cho Chúa. Và như Áp-ra-ham, khi lên núi Mô-ri-gia đã tự hỏi (I-xa-ác thuộc về ai?) và trả lời: thuộc về Thiên Chúa, thì cũng vậy, trên núi Sọ, trước câu hỏi (Chúa Giêsu thuộc về ai), Đức Maria đã trả lời: Người thuộc về Chúa Cha, và tôi trao Người lại cho Chúa Cha.

Đức Maria lắng nghe tiếng kêu khát của Đức Kitô Ga 19,28): tiếng kêu của Người Con và lòng trắc ẩn của người mẹ trong lời thứ năm

Như thế, chúng ta nhận ra sự đồng trinh của cái chết, hay đúng hơn, sự đồng trinh của tiếng kêu của Đấng hấp hối và của Đức Maria, Đấng lắng nghe, đón nhận và làm cho tiếng kêu đồng trinh ấy thành của mình. Tiếng kêu thiên sai của Chúa Giêsu quả thật là đồng trinh, vì đó là tiếng kêu của Đấng tín thác nơi Chúa Cha, không dựa vào loài người, những kẻ là nguyên nhân của tiếng kêu ấy, cũng không dựa vào lôgic của loài người: lôgic nhân loại không hiểu được Thập giá cũng chẳng hiểu tiếng kêu của Đấng chịu đóng đinh. Thiên Chúa, chỉ một mình Thiên Chúa: chính sự đồng trinh của cái chết hy tế của Đức Kitô làm cho mọi cái chết của con người trở nên hy tế và đồng trinh.

Chúng ta hãy cùng Đức Maria lắng nghe tiếng kêu bị bỏ rơi: chiều kích chiêm niệm của Tv 22 trên thập giá

Đức Maria đã nghe tiếng kêu của Đấng chịu đóng đinh dâng lên Chúa Cha, và ta có thể nghĩ rằng, ngoài nỗi đau đớn phần nhân loại mà tiếng kêu ấy có thể đã gây ra nơi Mẹ, nó còn mở ra một khoảng rộng trong ý thức của Mẹ với tư cách là Mẹ thiên sai. Tiếng kêu ấy hẳn đã giúp Đức Maria hiểu được ý nghĩa cái chết mang chiều kích Ba Ngôi của Chúa Giêsu, hoàn cảnh tột cùng của đời sống Ngôi Lời nhập thể đang đi tới đỉnh điểm của cuộc giao chiến với Xa-tan để cứu chuộc toàn thể lịch sử và toàn thể công trình tạo dựng. Thân phận tử đạo của Người và âm vang của thân phận ấy bên trong cộng đoàn Ba Ngôi.
Tiếng kêu của Chúa Giêsu trên Thập giá là một tiếng kêu vô cùng đau đớn, nhưng vẫn là một tiếng kêu của tình yêu; dù là một tiếng nói không thành lời, như mọi tiếng kêu vẫn thế, đó là một tiếng kêu hiếu thảo và chứa đựng một mặc khải vừa có tính Ba Ngôi vừa có tính Thánh Mẫu.

Lời thứ năm: “Ta khát” Ga 19,28-29)

Với câu thứ năm này trên thập giá, sau ba giờ bị bỏ rơi, Chúa Giêsu xin một chút gì để uống. Nhưng không phải chỉ vì thế mà Người nói: Ta khát. Trên thập giá, cũng như suốt cả cuộc đời mình, Chúa Giêsu đã làm trọn lời tiên báo: “chúng cho con ăn mật đắng, và khi con khát, chúng cho con uống giấm chua” (Tv 69,21). Sau khi đã hoàn tất công trình, Chúa Giêsu nhìn xa hơn, đến độ cơn khát Người cảm thấy gợi lên nỗi khao khát mãnh liệt niềm vui được ở trước nhan Thiên Chúa: “lạy Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa của con, con thành tâm tìm kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao Ngài” (Tv 63,1).
Cơn khát của Người hướng về Vương Quốc đang gần kề, nơi đó chẳng bao lâu nữa Người sẽ được hưởng sự hiệp thông trọn vẹn với Cha Người và với những người thuộc về Người. Người đã nói: “Ta khát” để có thể trở nên nguồn nước hằng sống cho tất cả những ai tin tưởng nơi Người. Hôm nay Người ban cho thế gian nước hằng sống của ơn cứu độ mà Người đã giành được cho chúng ta, những kẻ ở xa Thiên Chúa (Ga 4,14).
Ta có thể nghĩ rằng tiếng Ta khát đã không được Chúa Giêsu thốt lên trước sự dửng dưng của Người Mẹ đang lắng nghe Người, cũng không phải là Đức Maria đã nghe mà không cố đi sâu vào ý nghĩa của nó bên trong công trình thiên sai của Chúa Giêsu, cũng không phải là không quy chiếu về tương quan của Mẹ với Đức Kitô.
Hẳn đã vang lên trong Mẹ một âm vang xé lòng ngay từ lời nài xin đau đớn một chút nước để làm dịu cơn khát hấp hối của Người: Đức Maria dưới chân Thập giá không phải là một người Mẹ hư cấu, nhưng là người Mẹ thật, trước hết theo nghĩa sinh học và tâm lý. Và với tư cách là Mẹ thiên sai, sự hiểu biết của Mẹ về tiếng “Ta khát” của Chúa Giêsu là cao vời, bởi vì, sau Chúa Giêsu, Mẹ là thụ tạo khát khao Thiên Chúa và khát khao loài người hơn ai hết, ngoài ra Mẹ còn là người, hơn tất cả mọi người, đã và đang cộng tác với Chúa Giêsu để làm dịu cơn khát cứu chuộc và cứu độ ấy.

Lời thứ sáu: “Mọi sự đã hoàn tất”! Ga 19,30)

Những lời này biểu lộ ý thức của Người về việc đã thi hành đến cùng công trình mà vì đó Người được sai đến thế gian này (x. Ga 17,4). Cần lưu ý rằng đó không phải là ý thức đã thực hiện những dự phóng riêng của mình, nhưng là đã thi hành ý muốn của Chúa Cha trong sự vâng phục được đẩy tới chỗ hoàn toàn hiến tế chính mình trên thập giá.

Chúa Giêsu hấp hối hiện ra với chúng ta như mẫu mực của điều mà cái chết của mỗi người phải là, nghĩa là sự hoàn tất công trình được trao cho mỗi người để thực hiện các ý định của Thiên Chúa. Theo quan niệm Kitô giáo về sự sống và sự chết, con người được mời gọi cho đến giây phút chết để chu toàn ý muốn của Chúa Cha, và cái chết là hành vi cuối cùng, dứt khoát và quyết định, của việc chu toàn ý muốn ấy.

Tâm hồn Đức Maria đã rung động thế nào khi nghe lời kết thúc cuộc hiện hữu của Người Con?

Chỉ mình Thiên Chúa biết, nhưng chúng ta cũng có thể hình dung đôi điều nếu nghĩ rằng Mẹ, với tư cách là Mẹ thiên sai, đã chia sẻ hơn ai hết nỗi khắc khoải của Chúa Giêsu muốn thực hiện kế hoạch của Chúa Cha, ý muốn chu toàn sứ mạng đã được trao phó cho Người và dẫn đưa loài người tới ơn cứu độ. Nơi Mẹ, sự cảm nhận trung tín về ý nghĩa trọn vẹn của tiếng mọi sự đã hoàn tất ấy còn mạnh mẽ hơn nữa, bởi Mẹ đã là người lãnh nhận ưu tuyển và là chủ thể cộng tác với Đức Kitô trong việc thực hiện kế hoạch cứu độ mà Chúa Giêsu hoàn tất trên Thập giá.

Lời thứ bảy: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46)

Lời thứ bảy của Chúa Giêsu trên Thập giá kết thúc như thế này: “và gục đầu xuống, Người trao thần khí” (Ga 19,30). Theo Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu đã nói những lời này ít lâu trước khi tắt thở. Thật cảm động khi nghĩ rằng, trong vô vàn lời Chúa Giêsu đã nói suốt cuộc hiện hữu thiên sai của Người, những lời này hẳn đã là những lời sau hết.

Cũng vì thế, hẳn chúng đã làm Đức Maria xúc động một cách rất mạnh mẽ. Đó là những lời sau hết. Về Chúa Giêsu, thánh sử

  • Gioan nói rằng παρέδωκεν τὸ πνεῦμα (parédōken to pneuma) “Người trao thần khí” (Ga 19,30).
  • Mátthêu thì nói rằng ἀφῆκεν τὸ πνεῦμα (aphēken to pneuma) “Người để thần khí ra đi” (Mt 27,50).
  • Máccô thì nói rằng ἐξέπνευσεν (exepneusen) “Người tắt thở” (Mc 15,37).
  • Luca thì nói rằng παρέθετο τὸ πνεῦμα (paretheto to pneuma) “Người trao thần khí” (Lc 23,46).

Chúa Giêsu mở đường tới sự viên mãn của thị kiến vinh phúc trong Ba Ngôi

Trong ánh sáng của vĩnh cửu này, ta có thể nắm bắt đôi điều về tương quan huyền nhiệm giữa nhân tính của Đức Kitô, mà Người đã nhận lấy từ Đức Maria, và Ba Ngôi. Trong mỗi chặng của cuộc Thương Khó, Đức Maria đều dự phần cách sống còn, bởi vì nơi Mẹ đã được thực hiện cách cụ thể nguyên lý cứu chuộc của Tertullianô (qua đời năm 240) caro cardo salutis (xác thịt là bản lề của ơn cứu độ), nhưng nơi Người cũng đã được thực hiện nguyên lý của sự phục sinh và vinh quang vĩnh cửu của Chúa Giêsu, cùng với thân phận huyền nhiệm mà Người Con nhập thể mãi mãi đã mang vào lòng cộng đoàn Ba Ngôi: sự sống đời đời cho nhân loại.

Để tiếp tục suy niệm, bạn hãy truy cập ebook

Đức Maria đứng bên Thập giá lắng nghe những lời của Chúa Giêsu

Bạn hãy đào sâu việc học của mình: khám phá Thánh Mẫu học, Thần học Thánh Mẫu, các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học.

Về sự hiện diện của Đức Maria trong cuộc Thương Khó và vai trò của Mẹ như chứng nhân của những lời Chúa Giêsu, bạn hãy xem Tông huấn Marialis Cultus của Đức Giáo hoàng Phaolô VI.

Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học

Bạn có muốn đào sâu việc đào tạo của mình về Thánh Mẫu học không? Hãy tìm hiểu Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học của Locus Mariologicus, một chương trình đào tạo hàn lâm kết hợp sự nghiêm túc thần học, đời sống thiêng liêng và truyền thống sống động của Hội Thánh.

Đăng ký danh sách chờ →

Bạn có muốn học Thánh Mẫu học một cách nghiêm túc không?

Bài viết này nảy sinh từ các tác phẩm trong thư viện của Locus Mariologicus. Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học đưa bạn đến cùng một nguồn ấy, với sự đồng hành hàn lâm: Thánh Kinh, các Giáo Phụ và Huấn Quyền, từ tín điều đầu tiên đến các vấn đề đương đại.

Tìm hiểu Chương trình Sau đại học về Thánh Mẫu học

Related Articles

Responses